Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Giám định ADN trên nhiễm sắc thể Y


Nhiễm sắc thể Y chỉ truyền từ bố cho con trai, trên phân tử ADN của nhiễm sắc thể Y cũng có những locus STR như trên nhiễm sắc thể thường và những locus này được sử dụng để xác định huyết thống theo dòng bố. Bộ Kit của các hãng hiện nay dùng để giám định ADN trên nhiễm sắc thể Y thường có 16 locus. Xem sơ đồ dưới đây:
 
           

Thật giả giới tính đằng sau nhiễm sắc thể X, Y, SRY


Tại sao có những người “bóng” mặc dù hình hài nam giới. Tại sao có những phụ nữ xương to, tính tình giống đàn ông? Tại sao có gay và lesbian?
Phải chăng có sự sai sót ngay từ trong bào thai mà chúng ta chưa biết? Phải chăng khi mang thai người mẹ sử dụng thuốc, hóa chất gây đột biến cho thai nhi?
Theo tiến sĩ Lê Thúy Tươi, trong mỗi tế bào của thân thể chúng ta đều có 46 nhiễm sắc thể, tức là 23 cặp. Trong 23 cặp có bản sao y hệt, một nửa lấy từ mẹ, nửa kia lấy từ bố. Bởi thế xét nghiệm AND sẽ cho biết chính xác “bố thật” hay “ông hàng xóm”. Nếu XX thì bào thai là trẻ gái, còn bào thai bé trai là XY và phải thêm một gene nhỏ khác nữa mới hoàn chỉnh.
gtinh1-jpg-1358913657_500x0.jpg
Giới tính nam được quyết định như thế nào?
Trong 23 cặp nhiễm sắc thể có tới 22 cặp XY nhưng phải có một cặp XY có cấu trúc đặc biệt hơn, quyết định giới tính gọi là “Y nhỏ”  - khi xuất hiện “Y nhỏ” thì bào thai mới thật là bé trai.
"Y nhỏ" chứa đoạn gene có tên là SRY (Small rear Y), chỉ có một nhưng cực kỳ quan trọng bởi nó là gene quyết định đứa trẻ là giống đực.
SRY xuất hiện khi nào?
Sự thụ tinh đã tạo ra một mầm sống mới có tên gọi ban đầu là “hợp tử” (hai phần tử sống hợp thành). Vừa giao hòa xong là chúng bắt đầu phân chia và di chuyển nhịp nhàng bằng những cử động như làn sóng êm dịu của loa vòi trứng, từ từ “đẩy” hợp tử đến với tử cung. Thời gian “đi” của hợp tử là 7 ngày đêm và khi tới tử cung thì sự phân chia đã thành một khối gọi là “phôi dâu” (merula). Lúc này niêm mạc tử cung đang dày lên để chuẩn bị đón phôi đến. Phôi rơi vào nơi nào, niêm mạc nơi ấy sẽ dày lên “ôm” trọn lấy phôi. Đó là quá trình “làm tổ” và lớn lên.
Vào giữa tuần thứ 5 và thứ 6 của phôi thì gene SRY xuất hiện. Nó khởi động một loạt quá trình phức tạp: những tế bào nguyên thủy của tinh hoàn, dương vật xuất hiện. Testosterone từ tinh hoàn tiết ra làm biệt hóa phôi thành bé trai.
Nếu vào thời điểm đó gene SRY không xuất hiện?
Nếu gene SRY không hoạt động vào thời điểm này thì em bé với những nhiễm sắc thể XY lại phát triển bộ phận sinh dục theo hướng “cái” nhưng không có buồng trứng (bởi thiếu nhiễm sắc thể X). Khi dậy thì cô gái có thân hình vạm vỡ như con trai, tăng trưởng chiều cao (nhiễm sắc thể Y có gen tăng trưởng chiều cao).
Trẻ sẽ giống con gái nhưng không phải con gái. Không có bộ phận sinh dục nên khi sinh ra cha mẹ vẫn đặt tên, cho mặc quần áo con gái. Khi lớn lên "cô gái" này không có kinh. Trường hợp này gọi là “lại giới”. Đến tuổi dậy thì siêu âm không thấy buồng trứng, tính khí mạnh mẽ, ăn to, nói lớn, hung hăng như con trai. Chẩn đoán xác nghiệm bằng xét nghiệm gene.
Có khi nào những "bé gái" này có tinh hoàn?
Nếu em bé XY có SRY xuất hiện đúng thời điểm, vẫn có tinh hoàn xuất hiện và sản xuất testosterone. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó mà bào thai không đáp ứng với testosterone để biệt hóa thành bé trai 100%. Vậy là bé vẫn bị xếp thành "con gái" nhưng lại có hai tinh hoàn nằm chơi trong bụng.
Sự hình thành bé gái xuất hiện khi nào?
Sự biệt hóa sinh dục của bé gái chậm hơn bé trai, vào khoảng tuần thứ 7 đến tuần thứ 11 mới có sự xuất hiện những tế bào mầm của buồng trứng, tử cung. Progesterone của buồng trứng sẽ giúp biệt hóa cơ quan sinh dục nữ.
Nếu bé gái có cấu trúc XXY?
Y học gọi đó là hội chứng Klinefelter. Khi đã có nhiễm sắc thể Y thì lại có sự hình thành 2 tinh hoàn. Vì “vướng” 2 nhiễm sắc thể XX nên sự hình thành của testosterone kém. Khi trưởng thành vẫn là con trai nhưng cơ bắp mềm mại, giọng nói êm dịu, vóc dáng tròn trĩnh, vú hơi to. Hai tinh hoàn phát triển kém nên đối tượng này nếu lấy vợ cũng sẽ vô sinh.
Dư thừa nhiễm sắc thể gây ra rắc rối về giới tính
Nếu dư thừa nhiễm sắc thể X sẽ phiền toái hơn. Nhiễm sắc thể X thừa dẫn đến nhiều trục trặc bởi cấu trúc phức tạp của nó. Trên nhiễm sắc thể X có tới trên 200 vị trí, vị trí nào bị trục trặc cũng gây bệnh. Nhiễm sắc thể Y ít phức tạp hơn.
Đồng tính ái (homosexual) là do dị thường về di truyền?
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đi tìm theo hướng này nhưng chưa có kết quả. Giả thuyết cho rằng có mối liên quan giữa đồng tính ái và nhiễm sắc thể X vẫn chưa được xác nhận.
Cách gì phòng ngừa những trục trặc?
Không dùng thuốc, không đưa vào cơ thể các loại hóa chất trước và trong khi mang thai là điều chúng ta có thể phòng được. Sự biệt hóa của bào thai diễn ra ngay khi bạn mang thai, vậy mà nhiều bạn cứ vô tư ăn những thực phẩm được ướp các loại hóa chất không cho phép, có bạn sử dụng thuốc một cách bừa bãi. Có bạn đang uống thuốc ngừa thai (chứa ít estrogen và progesterone) vừa ngưng là có thai liền. Nếu bào thai là bé trai thì một lượng progesterone trong máu chưa thải hết đã tạo ra trục trặc cho quá trình biệt hóa theo hướng “đực”. Một số bác sĩ chẩn đoán là “bướu cổ” và chỉ định cho dùng Thyroxin (hoóc môn tuyến giáp trạng), đang uống Thyroxin lại có thai cũng gây ra những rối loạn trong quá trình biệt hóa sinh dục.

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

Viêm họng hạt

Viêm họng hạt là một dạng viêm họng mạn tính quá phát chính, đó là phản ứng của niêm mạc họng bị viêm nhiễm trường diễn tại vùng họng[1] là nơi chứa rất nhiều lympho bào với nhiệm vụ diệt vi sinh vật và khi bị viêm trường diễn thì các lympho bào này phải làm việc liên tục trong một thời gian dài và ngày càng to ra, trở thành các “hạt”.[2]

Mục lục

Đặc điểm

Viêm họng hạt thể hiện ở phía sau thành của họng là chủ yếu, ở đây có nhiều hạt với kích thước lớn, nhỏ khác nhau, có thể nhỏ như đầu đinh ghim nhưng cũng có thể to bằng hạt đậu, hạt ngô và đôi khi chúng nối tiếp với nhau. Các hạt này luôn luôn bị kích thích làm cho người bệnh rất khó chịu như nuốt vướng, đôi lúc có cảm giác như nuốt phải sợi tóc và ngứa họng lặp đi lặp lại nhiều lần trong ngày (trừ khi ngủ)..[3] Viêm họng hạt là một bệnh viêm nhiễm mạn tính thường gặp và chủ yếu xảy ra ở người trưởng thành.[4] bệnh không nặng nhưng gây khó chịu, nhất là trong giao tiếp.[5]

Triệu chứng

Người bệnh thường có cảm giác ngứa họng, vướng trong họng cho nên hay khạc, nhổ và mỗi lần khạc là mỗi lần cảm giác ngứa họng lại giảm đi. Một số người bệnh đôi khi cảm thấy họng bị khô, rát rất khó chịu. Bệnh nhân thường không sốt.
Ngoài ra, viêm họng hạt còn biểu hiện thông qua cảm giác vướng víu, ngứa rát thường xuyên trong họng, ho và khạc đờm (quánh dính hoặc trắng nhầy) thường xuyên (nhất là sáng sớm, khi ngủ dậy). Nhiều người bệnh do ngứa họng nên hay khậm khạc, dặng hắng. Khám tại chỗ thấy thành bên họng hơi đỏ, thành sau họng có những hạt trắng. Khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút (do nhiễm virus, làm việc căng thẳng, thay đổi thời tiết), bệnh có thể nặng lên thành một đợt viêm họng cấp (đau họng, sốt, ho khạc đờm đặc...)[6]

Phòng ngừa và điều trị

  • Trước hết phải làm sao để không viêm họng, cần vệ sinh đường hô hấp trên hàng ngày thật tốt và thường xuyên như đánh răng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. Đối với trẻ em cũng cần được vệ sinh họng miệng ngay từ lúc còn bé để không mắc bệnh viêm VA, viêm họng, viêm amidan, viêm mũi, viêm xoang.[7]
  • Khi đã mắc bệnh đường hô hấp trên thì cần được điều trị dứt điểm ngay từ lúc mắc bệnh lần đầu không để bệnh trở thành mạn tính. Hậu quả của viêm họng cấp là gây nên viêm họng hạt mà khi đã viêm họng hạt sẽ khó khăn trong việc điều trị.
  • Đối với công nhân lao động trong các hầm lò, cần có bảo hộ lao động như đeo khẩu trang, vệ sinh môi trường tốt , không nên hút thuốc vì hút thuốc lá.
  • Điều trị viêm họng hạt tương đối khó. Việc đốt điện chỉ tạm thời loại bỏ một số hạt to, gây kích thích ngứa họng, nếu chỉ đốt hạt đơn thuần mà không điều trị viêm nhiễm xung quanh thì bệnh sẽ tái phát như cũ.[8]
  • Để điều trị viêm họng hạt, trước hết phải loại bỏ các ổ vi khuẩn xung quanh, phải tìm ra nguyên nhân chính dẫn đến viêm họng hạt để chữa một cách triệt để. Ví dụ: điều trị viêm mũi, viêm xoang, viêm khí phế quản, viêm amidan... để loại bỏ ổ vi khuẩn từ một trong những nơi này.
  • Nên súc họng bằng nước muối loãng, cứ 3 giờ súc họng một lần. Nếu họng đang viêm cấp, khoảng cách giữa hai lần súc họng có thể gần hơn, súc họng trước và sau khi ngủ
  • Có thể trị viêm họng hạt bằng lá trâm ổi.[9]

7 nguyên nhân khiến Cholesterol cao

Cholesterol cao do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm tiền sử gia đình của bạn hoặc do chế độ ăn uống không hợp lý.
7 nguyên nhân khiến Cholesterol cao
Chế độ ăn uống
Ăn quá nhiều chất béo bão hòa (thường được tìm thấy trong bữa ăn sáng cổ điển) có thể gây ra lượng cholesterol cao. Bạn sẽ tìm thấy chất béo này trong các loại thịt động vât như: Thịt bò, thịt lợn, thịt bê, sữa, trứng, bơ, và pho mát có chứa chất béo bão hòa.
Thực phẩm đóng gói có chứa dầu dừa, dầu cọ, bơ ca cao có thể có rất nhiều chất béo bão hòa. Bạn cũng sẽ tìm thấy chất béo bão hòa trong bơ thực vật thanh, thực vật, và hầu hết các loại bánh ngọt, bánh quy giòn, khoai tây chiên và đồ ăn nhẹ khác.
 
Cân nặng

Khi cân nặng của bạn quá lớn, điều này thực sự là nguy cơ đối với sức khỏe. Thừa cân làm tăng mức cholesterol trong máu của bạn vì cơ thể của bạn lưu trữ thêm calo, đồng thời cân năng quá lớn cũng có thể làm tăng triglyceride và giảm HDL.
 
Cường độ hoạt động

Người lười vận động sẽ có nguy cơ cholesterol cao hơn những người thường xuyên tập luyện. Nếu bạn có thể đảm bảo được mức trọng lượng cơ thể hợp lý cùng với chế độ tập luyện thể dục thể thao đều đặn, bạn có thể cải thiện tình hình mỡ máu tăng cao.
 
Tuổi tác và giới tính
Đối với những người từ 20 tuổi trở lên, nồng độ cholesterol của bạn sẽ bắt đầu tăng lên. Ở nam giới, nồng độ cholesterol thường cao hơn so với nữ giới, đặc biệt là sau 50 tuổi.
Ở phụ nữ, nồng độ cholesterol được khá thấp cho đến thời kỳ mãn kinh, sau đó họ tăng lên đến mức độ tương tự như ở nam giới.
 
Sức khỏe tổng thể
Đừng bỏ qua kỳ khám sức khỏe định kỳ hàng năm của bạn, việc bạn mắc một số bệnh như bệnh tiểu đường hoặc suy giáp, có thể gây ra lượng cholesterol cao.
 
Lịch sử gia đình
Trong gia đình, nếu có thành viên có cholesterol cao thì bạn nên kiểm soát chế độ ăn uống của mình hợp lý hơn do nguy cơ bạn bị cholesterol là rất cao.
 
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá là nguyên nhân dẫn tới rất nhiều các loại bệnh và bạn cũng cần biết rằng hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tim, do ảnh hưởng của nó trên động mạch, tim, huyết áp, và mức cholesterol?

Đột quỵ - Cận kề cái chết

 Đột quỵ là bệnh hết sức nguy hiểm, được xem là 1 trong 3 căn bệnh gây tử vong hàng đầu cùng với tim mạch và ung thư.

Đột quỵ não là một bệnh xảy ra khi cung cấp máu một bộ phận não bị đột ngột ngừng. Đột quỵ não còn được gọi là tai biến mạch máu não.

Đột quỵ não thường do 2 nguyên nhân chính gây ra:
Mạch não bị tắc có thể do mạch máu bị xơ vữa gây hẹp dần và tắc tại chỗ. Có thể do cục máu đông hay mảng xơ vữa di chuyển từ nơi khác lên động mạch não và gây tắc.
Mạch máu bị vỡ do tăng huyết áp đột ngột cao quá mức, vỡ phình động mạch não. Mạch máu não bị dị dạng phình ra và gây vỡ.
Ngoài ra còn có nguyên nhân ít gặp là: Cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tương tự trường hợp trên nhưng mạch máu tự thông nên hồi phục hoàn toàn trong vòng 24 giờ.
Bên cạnh đó, các bệnh nhân mắc các chứng bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch, cholesterol máu tăng cao, một số bệnh về tim mạch… hút thuốc lá, nghiện rượu, rối loạn chức năng đông máu, béo phì, ít vận động, cũng có thể dẫn tới đột quỵ.
(Ảnh: extension.missouri.edu)
Những lưu ý phòng tránh đột quỵ:

Những dấu hiệu sau chứng tỏ bạn có thể bị đột quỵ:
- Bất ngờ có cảm giác tê liệt hoặc yếu ớt ở mặt, tay hay chân, đặc biệt ở một bên của cơ thể.
- Đột ngột bị lẫn lộn, gặp vấn đề trong việc nói và hiểu.
- Đột ngột có vấn đề về thị lực ở một hoặc cả hai mắt.
- Đột ngột có vấn đề trong việc đi lại, bị hoa mắt, mất thăng bằng hay mất khả năng kiểm soát sự di chuyển của cơ thể.
- Đau đầu dữ dội và đột ngột mà không rõ nguyên nhân.
- Khi có những dấu hiệu này ngay lập tức phải gọi cấp cứu hoặc nhờ người thân đưa đến cơ sở cấp cứu gần nhất.
(Ảnh: dhrcindia.com)
Để phòng tránh đột quỵ cần:
- Không hút thuốc và tránh hít phải khỏi thuốc thụ động.
- Điều trị bệnh cao huyết áp nếu bị bệnh này.
- Thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh ít chất béo bị bão hòa, ít chất béo chuyển dạng, ít cholesterol và muối.
- Thường xuyên hoạt động thể dục thể thao.
- Giữ cân nặng của quý vị trong tầm kiểm soát.
- Tuân theo các yêu cầu của bác sĩ về việc dùng thuốc.
- Kiểm soát đường huyết nếu bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường.
- Kiểm tra sức khỏe theo định kỳ và duy trì một cách đều đặn.

Cảnh giác cao với bệnh huyết áp thấp

Đối với nhiều người, huyết áp cao mới nguy hiểm cho tới sức khỏe, tuy nhiên theo các bác sĩ, tăng hay giảm huyết áp đều nguy hiểm tới sức khỏe và tính mạng của mỗi người.
Cảnh giác cao với bệnh huyết áp thấp
Huyết áp thấp với những biến chứng nguy hiểm, có thể dẫn tới tử vong nếu không được điều trị kịp thời. (Ảnh minh họa)
Triệu chứng của bệnh huyết áp thấp:
- Người bị huyết áp thấp thường có triệu chứng choáng váng, chóng mặt, mặt xanh khó chịu bứt rứt trong người.
- Các triệu chứng của bệnh huyết áp thấp hay đi kèm với các triệu chứng của các bệnh nền gây tụt huyết áp như: tiêu chảy, đau bụng, sốt cao, lạnh run hay các bệnh mạn tính khác như viêm phế quản mạn tính, xơ gan, suy tim, ung thư, đái tháo đường…
- Những trường hợp huyết áp thấp cấp tính, bệnh nhân thường có triệu chứng rất mệt mỏi và phải nhập viện ngay. Với những người huyết áp thấp mạn tính, có khi chỉ hoa mắt chóng mặt thoáng qua, hay chỉ hơi khó chịu trong cơ thể một chút.
- Người bệnh cần thực sự lưu ý, do nhiều biểu hiện của huyết áp thấp cũng gần giống với tăng huyết áp, vì vậy vai trò của việc đo huyết áp là rất quan trọng. Người bệnh chỉ được phép kết luận là tụt huyết áp khi đo huyết áp tối đa dưới 90mmHg.

Nguyên nhân gây nên huyết áp thấp

- Các nguyên nhân gây huyết áp thấp có thể là một bệnh cấp tính gây mất dịch trong cơ thể như tiêu chảy nhiều, ói mửa nhiều, say rượu…
- Có một số người hay bị hạ huyết áp tư thế. Họ bị hoa mắt chóng mặt khi đang nằm mà ngồi dậy, hoặc thay đổi tư thế đột ngột. Tình trạng này hay xảy ra vào buổi sáng sớm và không có nguyên nhân rõ rệt. Bệnh nhân chỉ cảm thấy hoa mắt chóng mặt, tim đập nhanh và vã mồ hôi. Các triệu chứng này chỉ kéo dài vài phút rồi hết. Trường hợp này, bệnh không hề gây tử vong cho người bệnh, tuy nhiên gây khó chịu và làm giảm đi chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Phòng ngừa bệnh huyết áp thấp:

- Không để mắc các bệnh cấp tính làm mất dịch nhiều như tiêu chảy, nôn ói.
- Không ăn kiêng thái quá, nhất là ở một số trường hợp nhịn ăn uống để giảm cân nặng ở một số phụ nữ trẻ.
- Tránh thay đổi tư thế quá đột ngột nhất là buổi sáng khi mới thức dậy.
- Hạn chế uống rượu bia và việc sử dụng các chất kích thích khác gây tổn hại cho hệ thần kinh.
- Tránh stress, cân bằng về tâm lý, với một số người bị huyết áp thấp vô căn có thể tập dưỡng sinh, Yoga đúng cách rất có lợi cho sức khỏe và hệ tuần hoàn.
- Có một chế độ ăn uống hợp lý, đầy đủ chất dinh dưỡng và phù hợp với lứa tuổi. Không để đói bụng quá, ngủ đủ và tập thể dục thường xuyên.
- Nên chữa trị tốt những bệnh mạn tính đã mắc phải như đái tháo đường, suy gan, viêm phế quản mạn tính…
- Nên khám sức khỏe định kỳ 2 lần trong năm với những người trên 40 tuổi để điều chỉnh những rối loạn trong cơ thể có thể dẫn đến huyết áp thấp bất ngờ.

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh Gout

Bệnh gout là bệnh do nồng độ acid uric trong máu cao, sinh ra viêm sưng khớp gây đau đớn kéo dài. Chế độ ăn uống là nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển hay ổn định của bệnh Gout.
Chế độ dinh dưỡng cho bệnh Gout
Dinh dưỡng cho người bị bệnh Gout là một trong những yếu tố hết sức quan trọng trong điều trị bệnh.
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, rất nhiều người đặc biệt là nam giới mắc phải bệnh mà người ta hay gọi là “bệnh nhà giàu” – bệnh Gout. Trong cả nguyên nhân cũng như cách điều trị việc ăn uống đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng. Ăn uống như thế nào để có thể dễ dẫn tới bệnh Gout và làm thế nào để có thể phòng tránh được căn bệnh này.
Ths, Bs Doãn Thị Tường Vi, Khoa Dinh dưỡng bệnh viện 198 đã có cuộc trò chuyện với chương trình, đã đưa ra những tư vấn liên quan tới bệnh Gout và những lưu ý dinh dưỡng đối với bệnh nhân bị bệnh Gout.
Gout là bệnh lý được biết đến lâu đời nhất của loài người, trước đây được xem như bệnh của "vua chúa" vì thường xuất hiện ở những người giàu sang với những đồ ăn thức uống của nhà giàu. Ngày nay, đây là ảnh hưởng của rối loạn phức tạp ảnh hưởng đến mọi người, không chỉ riêng người giàu.
Nguyên nhân dẫn tới bệnh Gout là do nồng độ acid uric trong máu tăng cao. Đối với người không mắc bệnh, acid uric thường phân hủy trong máu và được thải ra ngoài qua thận để ra nước tiểu. Đối với những người bị bệnh Gout, cơ thể tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid uric qua nước tiểu quá ít. Từ việc không đào thải được acid uric, khiến acid uric trong máu tăng lên, tích lũy dần và lắng đọng thành những tinh thể sắc nhọn hình kim tại các khớp hoặc các bao quanh khớp gây ra triệu chứng đau khớp, viêm sưng khớp.
Gout được xếp vào bệnh của thời đại văn minh, thường gây đau đớn dai dẳng cho người bệnh và là báo hiệu của nguy cơ bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh thân.

Nguyên nhân ăn uống là yếu tố thúc đẩy bệnh phát sinh, cũng như làm tăng quá trình tái phát bệnh, do trong quá trình sử dụng thực phẩm có nhiều nhân purin, khi purin chuyển hóa sẽ tạo ra axit uric. Acid uric lắng đọng ở các thận gây sỏi thận, sỏi đường tiết niệu, gây tắc nghẽn và dễ nhiễm trùng, có bệnh nhân có nguy cơ tử vong từ hậu quả của những nhiễm trùng đó.
Bệnh Gout nằm trong hội chứng chuyển hóa thừa cân, béo phì, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường… Các bệnh phối hợp lại với nhau, không những gây nên bệnh về khớp về thận, làm cho bệnh cảnh với nhiều biến chứng trầm trọng hơn.
 
Khi bị bệnh Gout, người bệnh không nên ăn nhiều những thực phẩm tạo ra nhiều axit uric, do đó những thực phẩm nhiều nhân purin khi ăn vào sẽ tạo ra nhiều acid uric. Những thực phẩm thường nên dùng là ngũ cốc, khoai củ, trứng, sữa, phomat, lạc, các loại rau củ không chua.
Có thể dùng thêm các loại thịt cá, tôm cua có thể dùng nhưng lượng vừa phải. Các loại thịt không nên ăn thịt trắng, không nên sử dụng các loại thịt đỏ như thịt thú rừng, thịt bò, tôm cua hải sản quá chứa nhiều nhân purin. Những loại nội tạng động vật, cá Trích, cá đóng hộp cũng nên thận trọng khi sử dụng. Những đô uống như bia rượu, nước trà, cà phê… cần dùng ở mức độ vừa phải, không nên quá lạm dụng.
Khi bị bệnh, người bị ăn các loại quả chua, uống những nước quả chua như bưởi chua, khế chua chúng ta cũng cần nên hạn chế, do môi trường acid đó làm tăng sự lắng đọng acid uric.
Nhằm tăng sự đào thải acid uric, người mắc bệnh Gout cần uống từ 1 lít – 2.5 lít nước khoáng. Nếu bệnh nhân không có bệnh về tim mạch, cần khuyến khích bệnh nhân nên uống các loại nước khoáng kiềm để đào thải acid uric.
Sau đây là những lưu ý trong chế độ dinh dưỡng đối với người mắc bệnh Gout:
Hạn chế:
- Hạn chế các loại thức ăn có nhiều nhân purin như: thịt, cá nạc, hải sản, gia cẩm.
- Hạn chế các loại phủ tạng động vật như gan, bầu dục, óc, lòng, dồi lợn.
- Hạn chế các loại rau quả có vị chua.
- Hạn chế các loại thức uống có nhiều nhân purin như: rượu, bia, chè, cà phê.
Nên:
- Uống nhiều nước, uống các loại nước khoáng kiềm.
- Ăn các loại rau quả có tính chất lợi tiểu để tránh acid uric ứ đọng lại trong cơ thể.
- Trong đợt Gout cấp có thể dùng trứng, sữa, phomat, các loại hạt.
Lưu ý:
- Những bệnh nhân có cholesterol trong máu cao không nên dùng quá 2 quả trứng/ 1 tuần.
- Chất tinh bột sử dụng bằng gạo, mì, khoai.
- Chất béo sử dụng bằng bơ, dầu thực vật.