Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Kim tiền thảo- Desmodium styracifolium


Kim tiền thảo (danh pháp hai phần: Desmodium styracifolium) là một loài thực vật thuộc chi Thóc lép hay chi Tràng (Desmodium) của họ Ðậu (Fabaceae), ở Việt Nam còn được gọi là cây vẩy rồng, cây mắt trâu, đậu vẩy rồng, đuôi chồn quả cong. Tên gọi kim tiền thảo có nguồn gốc Hán-Việt (金钱草).
Kim tiền thảo
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Fabales
Họ (familia)Fabaceae
Phân họ (subfamilia)Faboideae
Tông (tribus)Desmodieae
Phân tông (subtribus)Desmodiinae
Chi (genus)Desmodium
Loài (species)D. styracifolium
Danh pháp hai phần
Desmodium styracifolium
(Osbeck) Merr., 1916

Các danh pháp đồng nghĩa bao gồm: Hedysarum styracifolium Osbeck; Desmodium capitatum (N. L. Burman) Candolle; D. retroflexum(L.) Candolle; H. capitatum N. L. Burman; H. retroflexum L.; Nicolsonia styracifolia (Osbeck) Desvaux; Pseudarthria capitata (N. L. Burman) Hasskarl; Uraria retroflexa (L.) Drake.

Mô tả

Cây nhỏ cao 40–80 cm, mọc bò. Thân rạp xuống, đâm rễ ở gốc rồi mọc đứng. Cành non hình trụ, khía vằn và có lông nhung màu gỉ sắt. Lá mọc so le gồm một hoặc ba lá chét, dài 2,5-4,5 cm, rộng 2–4 cm, lá chét giữa hình mắt chim, các lá chét bên hình bầu dục, mắt chim; mặt trên lá màu lục lờ và nhẵn, mặt dưới có lông trắng bạc và mềm. Cụm hoa chùm hay chùy ở nách hay ở ngọn, có lông mềm màu hung hung, thường có lá ở gốc các hoa. Hoa màu hồng, xếp 2-3 cái một. Quả thõng, hơi cong hình cung, có ba đốt.
Ra hoa tháng 6-9, kết quả tháng 9-10.

Bộ phận dùng

Toàn cây - Herba Desmodii Styracifolii, thường có tên là quảng kim tiền thảo.

Nơi sống và thu hái

Loài bản địa của khu vực Đông Nam á và Hoa Nam, mọc hoang ở các đồi vùng núi có cao độ dưới 1.000 m. Tại Việt Nam, thường gặp ở những chỗ sáng, trên đất cát pha, vùng trung du Hà Tây, Lạng Sơn, Ninh Bình, Hải Phòng. Thu hái cây vào mùa hè thu, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Thành phần hóa học

Kim tiền thảo có chứa polysaccharid, saponin triterpenic, các flavonoid như isovitexin, vicenin glycosid, isoorientin,... và các chất khác như desmodimin, desmodilacton, lupenon, lupcol, tritriacontan, acid stearic,...

Tính vị tác dụng

Theo dược học cổ truyền, kim tiền thảo vị ngọt, tính bình, có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi niệu thông lâm, tiêu thũng bài thạch, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như viêm đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, sỏi mật, phù thũng do viêm thận, hoàng đản (vàng da), tích tụ, ung thũng,...

Công dụng, chỉ định và phối hợp

Thường dùng chữa:
  • Sỏi niệu đạo, sỏi bàng quang, sỏi túi mật;
  • Nhiễm khuẩn đường niệu, viêm thận phù thũng;
  • Viêm gan vàng da.
Ngày dùng 15-60g, dạng thuốc sắc. Người có thai không dùng.



hoa xà thiệt thảo hay cỏ lưỡi rắn hoa trắng - Hedyotis diffusa

Bạch hoa xà thiệt thảo hay cỏ lưỡi rắn hoa trắng (danh pháp hai phần: Hedyotis diffusa) là một loài thực vật được sử dụng trong đông y. It Cây này được sử dụng trong điều trị các bệnh liên quan hệ miễn dịch, sốt, ung thư..
Cây mọc dại ở Trung Quốc, Nepal, Nhật Bản.
Hedyotis diffusa
Oldenlandia diffusa.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Asterids
Bộ (ordo)Gentianales
Họ (familia)Rubiaceae
Chi (genus)Hedyotis
Loài (species)H. diffusa
Danh pháp hai phần
Hedyotis diffusa
Willd.
Bạch hoa xà thiệt thảo
Cây có lá như lưỡi rắn nên có tên Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo,Giáp mãnh thảo, Xà thiệt thảo, Nhị Diệp Luật (Trung Dược Học), Xà thiệt thảo, Ải cước bạch hoa xà lợi thảo (Quảng Tây Trung Dược Chí), Mục mục sinh châu dược Tiết tiết kết nhụy thảo, Dương tu thảo (Quảng Đông Trung Dược), Xà tổng quản, Hạc thiệt thảo Tế diệp liễu tử (Phúc Kiến Trung Thảo Dược), Tán thảo, Bòi ngòi bò, Bòi ngòi bò (Việt Nam).

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoTác dụng:Bạch hoa xà thiệt thảo, bach hoa xa thiet thao,Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo,Giáp mãnh thảo, Xà thiệt thảo, Nhị Diệp Luật (Trung Dược Học), Xà thiệt thảo, Ải cước bạch hoa xà lợi thảo (Quảng Tây Trung Dược Chí), Mục mục sinh châu dược Tiết tiết kết nhụy thảo, Dương tu thảo (Quảng Đông Trung Dược), Xà tổng quản, Hạc thiệt thảo Tế diệp liễu tử (Phúc Kiến Trung Thảo Dược), Tán thảo, Bòi ngòi bò, Bòi ngòi bò (Việt Nam).

Bạch hoa xà thiệt thảo
 Thanh nhiệt, giải độc, lợi niệu, khử ứ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Thanh nhiệt, giải hỏa độc, tiêu ung (Trung Dược Học).
+ Thanh nhiệt, giải độc, tiêu ung, kháng nham, lợi thấp (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược)
+ Tiêu thủng, giải độc, khu phong, chỉ thống, tiêu viêm (Quảng Đông Trung Dược).

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoChủ trị:

Bạch hoa xà thiệt thảo
+ Trị các loại sưng đau do ung thư, các loại nhiễu trùng như nhiễm trùng đường tiểu, viêm hạnh nhân, viêm họng, thanh quản, viêm ruột thừa, viêm phế quản cấp mãn tính, viêm gan thể vàng da hoặc không vàng da cấp tính,  Rắn độc cắn, sưng nhọt lở đau, tổn thương do té ngã(Quảng Tây Trung Dược Chí).
+ Trị rắn cắn, ung thư manh trường, kiết lỵ (Quảng Đông Trung Dược).
Liều dùng Dùng khô từ 20-40g,  ngoài dùng tươi gĩa nát đắp lên nơi đau.
Tìm hiểu sâu thêm về Bạch  Hoa Xá Thiệt Thảo:

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoTên khoa học:

Odenlandia diffusa (Willd) Roxb.

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoHọ khoa học: 

Cà Phê (Rubiaceae).

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoMô tả:

Cây thảo sống hàng năm, mọc bò, nhẵn. Thân hình 4 cạnh, màu nâu nhạt tròn ở gốc. Lá hình giải hay hơi thuôn, nhọn ở đầu, màu xám, dai, không cuống, lá kèm khía răng ở đỉnh. Hoa thường mọc đơn độc, hay họp 1-2 chiếc ở nách lá. Hoa màu trắng ít khi hồng, không cuống. Đài 4 hình giáo nhọn, ống dài hình cầu. Tràng 4 tù nhẵn, ống tràng nhẵn cả hai mặt. Nhị 4 dính ở họng ống tràng. Bầu 2 ô, 2 đầu nhụy, nhiều noãn, quả khổ dẹt ở đầu, có đài còn lại ở đỉnh. 2 ô nhiều hạt, có góc cạnh. Có hoa quả hầu như quanh năm. Cây có ở cả 3 miền nước ta, ở vườn hai bên lối đi đều hay gặp.
Thu hái, sơ chế: Thu hái phơi khô cất dùng.

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoPhần dùng làm thuốc:

Toàn cây.

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoThành phần hóa học:

+ Trong Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo chủ yếu có: Hentriaconotane, Stigmastatrienol, Ursolic acid, Oleanolic acid, b-Sitosterol, p-Coumnic, b-Sitosterol-D-Glucoside (Trung Dược Học).
+ Asperuloside, Asperulosidic acid, Geniposidic acid, Deacetylasperulosidic acid, Scandoside, Scandoside methylester, 5-O-p-Hydroxycinnamoyl scandoside methylester, 5-O-feruoyl scandoside methylester, 2-Methyl-3- Hydroxyanthraquinose, 2-Methyl-3- Methoxyanthraquinose, 2-Methyl-3- Hydroxy-4- Methoxyanthraquinose (Nishihama Y và cộng sự, Planta Med, 1981, 43 (1): 28).
+ Ursolic acid, b-Sitosterol Yakagi S và cộng sự, Shoyakugaku Zasshi 1982, 36 (4): 366).

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoTác dụng dược lý:

-Tác dụng kháng khuẩn: In vitro, tác dụng này không mạnh. Có tác dụng yếu đối với Tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn lỵ. Dịch chích không có tác dụng ức chế vi khuẩn. Thuốc có hiệu quả rõ rệt đối với ruột dư viêm thực nghiệm trên thỏ (Trung Dược Học).
+ Tác dụng trên hệ miễn dịch: những thực nghiệm căn bản  trên thỏ, có thể tin rằng  sự kháng nhiễm có thể do thuốc có tác động lên hệ miễn dịch của cơ thể như làm tăng sinh hệ tế bào nội bì lưới, làm tăng hoạt lực của tế bào thực bào, tăng chức năng hệ miễn   dịch không đặc hiệu (Trung Dược Học).
+Tác dụng chống khối u: thuốc sắc Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo nồng độ cao  in vitro thấy có tác dụng ức chế đối với tế bào trong bệnh bạch cầu viêm cấp, bạch cầu hạt tăng cấp (Trung Dược Học).
+Thuốc còn có tác dụng làm tăng cường chức năng vỏ tuyến thượng thận, nhờ đó, có tác dụng kháng viêm (Trung Dược Học).
+Tác dụng kháng ung thư: Thuốc ức chế sự phân chia sinh sản của hạch tế bào ung thư làm cho tế bào ung thư hoại tử khác biệt so với lô chứng (Trung Dược Học).
+ Tác dụng ức chế sản sinh tinh dịch: theo dõi 102 cas, kiểm tra tinh dịch sau 3 tuần uống thuốc thấy có 77% bệnh nhân tinh trùng giảm từ 1/3 đến 1/10 so với trước khi uống thuốc (Trung Dược Học).
+ Chích nước sắc chiết cồn của Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo cho bệnh nhân bị  nhiều loại rắn độc khác nhau cắn phải, dùng một mình hoặc kết hợp với thuốc chống nọc độc,  thấy có tác dụng làm giảm tỉ lệ tử vong của chuột do độc tố của rắn độc. Ở các cas trung bình, chỉ dùng Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo là đủ (Trung Dược Học).
+ Điều trị ruột dư viêm: dùng liều cao (40g tươi hoặc 20g khô) Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo, trong nhiều nghiên cứu thấy có kết quả tốt. Trong 1 lô 30 bệnh nhân, bị ruột dư viêm được điều trị bằng thuốc sắc Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo, trong khi nhóm khác dùng Dã Cúc Hoa và Hải Kim Sa. Có 2 bệnh nhân cần giải phẫu, còn lại tất cả đều hồi phục, không có vấn đề gì. Thời gian nằm viện là 4,2 ngày (Trung Dược Học).

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoTính vị - Quy Kinh:

+Vị ngọt nhạt, tính mát
+ Vào kinh Tâm,Can, Vị, Tiểu trường, Đại trường,

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoĐơn thuốc kinh nghiệm:


+ Trị ung nhọt, u bướu: Bạch hoa xà thiệt thảo 120g, Bán biên liên (tươi) 60g sắc uống, ngoài đâm nát đắp lên nơi đau (Quảng Tây Trung Thảo Dược).
+ Trị ung thư phổi: Bạch hoa xà thiệt thảo, Bạch mao căn mỗi thứ 160g (dùng tươi), sắc uống với nước đường (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị ruột dư viêm cấp tính: Bạch hoa xà thiệt thảo 80g, sắc uống, nhẹ ngày 1 thang, nặng ngày 2 thang (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị ho do viêm phổi: Bạch hoa xà thiệt thảo (tươi) 40g. Trần bì 8g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị amidal viêm cấp : Bạch hoa xà thiệt thảo 12g, Xa tiền thảo 12g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị đường tiểu viêm, tiểu buốt, tiểu gắt: Bạch hoa xà thiệt thảo, Dã cúc hoa, Kim ngân hoa, mỗi thứ 40g, Thạch vi 20g, sắc uống thay nước  trà (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Trị chấn thương thời kỳ đầu: Bạch hoa xà thiệt thảo (tươi) 120g, nước, rượu mỗi thứ 1 nửa sắc uống (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).
+ Bảo vệ gan, lợi mật: Bạch hoa xà thiệt thảo + Hạ khô thảo + Cam thảo [theo tỉ lệ 2 + 2 + 1] (Tam Thảo Thang - Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).
+ Trị ruột dư viêm cấp đơn thuần và phúc mạc viêm nhẹ: Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, sắc, chia 3 lần  uống. Đã trị hơn 1000 cas kết qủa tốt (Dược Lý Và Ứng Dụng Trung Dược, NXB Vệ Sinh Nhân Dân, 1983).
+ Trị rắn độc cắn: Bạch hoa xà thiệt thảo 20g, sắc với 200ml rượu uống trong ngày. Dùng 2/3 thuốc, chia làm 2-3 lần uống, còn 1/3 đắp vào vết cắn. Trị 19 cas đều khỏi (Quảng Đông Y Học Tạp Chí 1965, 4:14). 
+ Trị dịch hoàn ứ nước (biến chứng sau khi thắt ống dẫn tinh): Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, sắc, chia làm 3 lần uống. Trị 38 cas, có kết qủa 34 cas (Vạn Hiếu Tài - Nông Thôn Y Học Tạp Chí 1987, 2:11).
+ Trị gan viêm, vàng da: Bạch hoa xà thiệt thảo 31,25g, Hạ khô thảo 31,25g, Cam thảo 15,625g, chế thành xi rô. Trị 72 cas, có kết quả 100%. Ngày nằm viện bình quân 25,3 ngày (Tam Thảo Thang - Báo Cáo Của Khoa Nhiễm Bệnh Viện Trực Thuộc số 2 Học Viện Y Học Hồ Nam đăng trong Thông Tin Trung Dược Thảo 1987, 2:1).

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoTham Khảo:

“Bạch hoa xà thiệt thảo + Bán chi liên mỗi vị 40g, được dùng nhiều trong các bài thuốc trị các loại ung thư (Quảng Tây Trung Thảo Dược).

Bạch hoa xà tiên thảo, bachhoaxathienthao, bach hoa xa thien thaoPhân biệt:

(1) Cây trên khác với cây cũng được gọi là Bạch hoa xà thiệt thảo, hoặc có các tên khác như: Đuôi công hoa trắng, Bươm bướm tích lan, Bươm bướm trắng. Nhài công, Bạch tuyết hoa. Lài đưa, Chiến (Plumbago zeylanic L.) thuộc họ Plumbaginnaceae, là cây cỏ cao từ 0,50m đến 1m, cành có góc, thân có khía dọc. Lá hình trứng hay thuôn, đầu nhọn mọc so le, cuống lá ôm lấy thân, hoa hình đinh màu trắng, mọc thành bông dày đặc ở ngọn, đài có nhiều lông dính.
Nhân dân thường lấy rễ lá tươi để làm thuốc. Rễ có màu trắng đỏ nhạt, mép ngoài sẫm có rãnh dọc, phấn trong màu nâu, vị hắc gây buồn nôn, có tính chất làm rộp da. Cây này có vị cay tính nóng, có độc, có tác dụng thông kinh. hoạt huyết, sát trùng tiêu viêm. Thường dùng ngoài để chữa đinh nhọt, tràng nhạt, sưng vú, dùng lá rễ tươi đâm nát đắp vào. Khi chữa hắc lào lở ghẻ lấy rễ tươi rửa sạch gĩa nhỏ phơi trong mát ngâm rượu 70 độ bôi vào, chữa chai chân đi không được bằng cách đâm tươi rịt 2 giờ rồi bỏ ra. Ngoài ra có thể sao vàng sắc uống để trừ hàn lãnh, ứ huyết của sản phụ.
(2) Cũng cần phân biệt với cây Xích hoa xà còn gọi là Bạch hoa xà, Bươm bướm hường, Bươm bướm đỏ đuôi công (Plumbago indica Linn hoặc Plumbago rosea Linn.) là cây thảo thân hóa gỗ rất nhiều, có khía dọc nhỏ nhẵn. Lá nguyên mọc cách hình mũi mác thuôn, mặt trên hơi có lông gần tù ở đầu, cuống lá ngắn.
Hoa họp thành bông dài ở đỉnh, đơn hoặc phân ít nhánh ở phần trên, lá bắc hình trứng, chỉ bằng 1/4 của đài. Đài hình trụ có 5 cạnh phủ lông tuyến khắp mặt ngoài, tận cùng là 5 răng ngắn, nhọn. Tràng màu đỏ, ống nhỏ, dài gấp 4 lần đài, 5 thùy trải ra hình trứng hơi tròn. Nhị 5. Bầu bé, vòi nhụy chĩa thành 5 cánh ở ngọn. Cây có ở cả 3 miền nước ta, thường được dùng làm cảnh. Có tài liệu giới thiệu rễ cây này cũng có công dụng như cây này. Kinh nghiệm nhân dân dùng bột rễ cây này trộn với dầu để xoa bóp nơi tê thấp và bệnh ngoài da như cùi hủi, ung thư. Có nơi chữa đau gân, đau xương, làm thuốc trụy thai, thường hay dùng lá, nếu nhức xương thì dùng rễ, lá xào ăn, ăn nhiều thì có tác dụng xổ.
(3) Ngoài ra người ta còn dùng cây Bòi Ngòi Trắng (Oldenlandia pinifolia (Wall) K.Schum) để thay cho Bạch hoa xà thiệt thảo.
(4) Ở Trung Quốc cũng dùng cây Bòi Ngòi Ngù, còn gọi tên khác là Vỏ Chu (Oldenladia corymbosa Linn.) hoặc Thủy tuyến thảo, là cây cùng họ với cây trên, công dụng giống nhau. Người ta thường cho rằng tác dụng trị ung thư thì cây Bạch hoa xà thiệt thảo có tác dụng tốt hơn cây này. Đó là cây thảo sống hàng năm thẳng đứng cao 0,15-0,40m, phân nhánh nhiều, nhẵn. Thân non màu lục, có 4 cạnh, sau tròn và xám ở gốc. Lá hình giải hay hình trái xoan dài, nhọn cả hai đầu và không có cuống, chỉ có gân chính là nổi rõ, lá kèm mềm, chia thùy ở đỉnh. Hoa tập trung thành sim ở nách lá. Quả nang hình bán cầu, hơi lồi ở đỉnh. Cây có hoa và quả quanh năm. Nhân dân dùng toàn cây, thu hái quanh năm nhưng tốt nhất là vào mùa hè, thu, lúc cây ra hoa. Thu hái về phơi khô hay sao vàng, dùng trong các chứng sốt cao, đau nhức xương cốt, thấp khớp, đau lưng, mệt lả (Danh Từ Dược Vị Đông Y).

Bạch hoa xà-Plumbago zeylanica L

Bạch hoa xà còn gọi là đuôi công hoa trắng, cây lá đinh, bạch tuyết hoa, cây chiến…có tên khoa học là Plumbago zeylanica L, Họ đuôi công (Plumbaginaceae).


Bạch hoa xà – Ten khoa học là Plumbago zeylanica L – Chứa plumbagin là chất kháng sinh, trị tê thấp, ung, nhọt.
Bạch hoa xà là một loài cỏ sống dai cao 0,3-0,6m, có gốc dạng thân rễ, với thân sù sì, bóng láng. Lá mọc so le, hình trái xoan, hơi có tai và ôm thân, nguyên, nhẵn, nhưng trăng trắng ở mặt dưới. Hoa màu trắng, thành bông ở ngọn và ở nách lá, phủ lông dính, tràng hoa dài gấp đôi đài. Cây ra hoa quả gần như quanh năm, chủ yếu vào tháng 5-6.
Cây mọc tự nhiên ở Ấn Độ và Malaixia, nhưng thuần hoá và thường trồng trong tất cả các xứ nhiệt đới, nhất là ở Java (Inđônêxia). Ở nước ta, cây cũng được trồng nhiều trong các vườn gia đình; trồng bằng cành ở nơi ẩm mát.
1. Công dụng của Bạch hoa xà
Bạch hoa xà là cây vị thuốc mới chỉ được dùng trong phạm vi dân gian làm thuốc chữa những bệnh ngoài da, vết loét, vết thương. Thường dùng rễ giã nhỏ với cơm cho thành một thứ bột nhão, đắp lên những nơi sưng đau. Có nơi sắc rễ lấy nước bôi ghẻ ( Gs. TS Đỗ Tất Lợi)
 * Ở Trung Quốc, thường dùng trị
- Phong thấp đau nhức xương, da thịt thâm tím;
 – Đau dạ dày, gan lách sưng phù;
- Bệnh ngoài da (hecpet mọc vòng), nhọt mủ, bong gân. Kinh nghiệm dân gian dùng lá giã đắp chữa đinh nhọt rất đặc hiệu, do đó có tên là cây lá dính.
 * Ở Inđônêxia, cũng dùng chữa bệnh ngoài da, thấp khớp, nhức đầu, các bệnh về cơ quan tiết niệu và làm thuốc gây sẩy thai. Để chữa các bệnh ngoài da, người ta lấy lá và rễ giã ra trộn lẫn với bột gạo làm thuốc đắp. Để trị nhức đầu, chỉ cần dùng một lượng nhỏ thuốc đắp vào phía sau tai sẽ làm giảm đau.
* Ở Philippin, nước sắc rễ dùng trị ghẻ.
* Ở Ấn Độ, người ta dùng rễ trị các bệnh ngoài da, ỉa chảy, khó tiêu, bệnh trĩ, phù toàn thân, làm thành bột đắp với giấm, sữa hay muối và nước dùng đắp ngoài trị phong hủi và những bệnh ngoài da khác. Cồn thuốc của rễ cây có khả năng làm ra mồ hôi. Dịch sữa của cây dùng đắp trị ghẻ và mụn loét. 
2. Bài thuốc chữa bệnh từ bạch hoa xà
2.1 Trị sưng đau, ghẻ lở
Dùng rễ 10-15g đun sôi kỹ trong 4 giờ, lấy nước uống hoặc lấy rễ ngâm rượu xoa bóp. Rễ, lá giã nhỏ đắp lên nơi sưng đau. Sắc rễ lấy nước bôi ghẻ.
2.2 Tăng huyết áp
Bạch hoa xà (toàn cây) 16 g, lá dâu 20 g, hoa đại 12 g, quyết minh tử (hạt muồng) 16 g, cỏ xước 12 g, ích mẫu 12 g. Sắc uống ngày một thang.
2.3 Mụn, nhọt sưng tấy
Lá bạch hoa xà đắp cách 2-3 lớp gạc ngay trên mụn nhọt, có tác dụng làm tan nhọt. Chỉ nên đắp 30 phút. Nên cẩn thận vì có thể gây bỏng da nếu không đắp cách gạc. Nếu bị bỏng, cần dùng dung dịch acid boric loãng rửa vết bỏng.
2.4 Táo bón
Lá bạch hoa xà nấu canh với giấm hoặc chanh để ăn (có thể xào). Uống 1 bát canh, sau 1 giờ là đi ngoài được, người không mệt. Nếu muốn thôi đi ngoài, vò lá với nước lạnh, uống 1/2 chén.
2.5 Phong thấp
Rễ bạch hoa xà 12 g, dây đau xương 12 g, thổ phục linh 16 g. Sắc uống ngày một thang.
2.6 Sưng đau do chấn thương
 Rễ hoặc lá bạch hoa xà giã với cơm thành bột nhão, đắp lên chỗ sưng đau.
2.7 Bong gân sai khớp
 Rễ bạch hoa xà 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Có thể dùng rễ bạch hoa xà ngâm rượu làm thuốc xoa bóp.
2.8 Chốc lở
Lá bạch hoa xà giã nát, đắp lên tổn thương sau khi đã rửa sạch, nếu thấy nóng thì phải bỏ ra.
2.9 Đau gan, đau dạ dày
Rễ bạch hoa xà 12 g, nhân trần 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.
2.10 Ghẻ
Rễ bạch hoa xà sắc lấy nước, dùng nước này để bôi ghẻ.
2.11 Chậm kinh
Bạch hoa xà (toàn cây) 16 g, lá móng tay 40 g, củ nghệ đen 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Khi thấy kinh phải ngừng uống ngay.
2.12 Tê thấp
 Bột rễ bạch hoa xà trộn với dầu vừng, xoa bóp (kinh nghiệm của Ấn Độ).

3. Cách gây trồng, thu hái và chế biến Bạch hoa xà

Bạch hoa xà có thể trồng bằng một đoạn cành hoặc đoạn thân gần gốc ở nơi ẩm mát. Cây ưa đất ẩm, tơi xốp, nhiều mùn. Có khả năng phát triển trồng ở các vùng chuyên canh.
Bộ phận thường sử dụng là rễ và lá, được th hái quanh năm. Rễ đào về, rửa sạch, cắt đoạn ngắn rồi phơi khô dùng dần. Lá thường được dùng tươi
Chú ý:
Ở nước ta còn có cây mang tên Đuôi công hay Xích hoa xà (Plumbago rosea L.), cùng họ, mọc hoang ở nhiều nơi, nhân dân sử dụng như cây Bạch hoa xà.
Cần phân biệt với cây Bạch hoa xà thiệt thảo – Cỏ lưỡi rắn hoa trắng (Hedyotis diffusa Willd.), họ Cà phê (Rubiaceae)
Không dùng cho phụ nữ có thai. Nếu bị bỏng rộp, dùng acid boric để rửa chỗ da bị tổn thương.

Sâm đất và công dụng chữa bệnh(Talinum patens L, họ rau sam Portulacaceae)

Talinum patens L, họ rau sam Portulacaceaesam-dat-s-300x225 Sâm đất và công dụng chữa bệnh
1.Mô tả cây sâm đất
Sâm đất là cây thân thảo, mọc đứng, thân nhẵn, phân nhánh nhiều ở dưới. lá mọc so le hình trái xoan thuôn hay trứng ngược, phiến lá dày, hơi mập, bóng cả 2 mặt, mép lá hầu như lượn sóng. Hoa nhỏ màu hồng. Quả nhỏ, khi chín có màu đỏ nâu hay xám tro, rất nhỏ, dẹt màu đen nhánh.
Sâm đất mọc hoang, có mặt khắp nơi Việt Nam, đặc biệt là ở vùng núi.
2. Sâm đất và công dụng chữa bệnh
Sâm đất là rau vị thuốc, bộ phận thường dùng là rễ và lá, lá thu hái quanh năm để nấu canh ( ăn ngon như rau mồng tơi).
Sâm đất thường dùng để bồi bổ cho cơ thể suy nhược, ra nhiều mồ hôi, ho do phổi ráo, đái dầm, kinh nguyệt không đều, thiếu sữa. Liều dùng : 30 – 35g dạng thuốc sắc. Ngoài ra có thể giã lá tươi đắp trị mụn nhọt.
Đơn thuốc dùng củ sâm đất : Bồi bổ cơ thể suy nhược, sưng phổi, kinh nguyệt không đều : Dùng mỗi lần 40 – 80 g củ, sắc uống. Hoặc dùng 20 30 g củ, phối hợp với các vị thuốc khác.
3. Hướng dẫn cách trồng sâm đất
Sâm đất có thể trồng từ hạt hoặc trồng từ mẫu thân hay mẫu rễ
3.1 Nguồn giống từ hạt
Hạt giống sau khi thu hái đươc xử lý bằng nước ấm ( 2 sôi + 3 lạnh) ngâm trong nước khoảng 6 – 8 giờ, vớt ra để ráo, dùng que nhọn chọc lỗ sâu 1cm rồi cho hạt vào ( 2-3 hạt/ lỗ), lấp kín đất, dùng lưới che nắng cho luống gieo.
3.2 Nguồn giống từ hom
- Chọn hom : Hom được lấy từ thân hoặc củ cây mẹ, lấy từ đoạn gốc đến hết phần bánh tẻ của thân, hạn chế lấy phần ngọn quá non, dễ bị thối gốc khi giâm.
- Dùng dao hay kéo sắc để cắt hom. Hom được cắt từ thân có chiều dài 10 – 20 cm và ít nhất trên mỗi hom có từ 3 – 4 mắt lá, tỉa bớt lá trên hom chừa khoảng 1/3 lá, đem giâm vào luống. Thường xuyên tưới ẩm. Sau khi giâm 10 -15 ngày hom giâm bắt đầu có rễ thì đem trồng.
3.3 Cách trồng
Sâm đất có thể trồng trên các luống đất với kích thước  rộng 1,2m x cao 10 – 20 cm, kích thước giữa các cây là 15 – 20cm. Cũng có thể trồng trong chậu hay thùng xốp.
- Đất trồng pha trộn theo tỉ lệ : 80% đất thịt + 10% tro trấu hoặc rơm mục+ 10% phân chuồng hoai.
3.4 Chăm sóc
Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho đất, đặc biệt vào mùa nắng hạn. Kết hợp nhổ cỏ dại và phòng trừ sâu xám ăn lá và chồi non.
3.5 Thu hoạch
Cây rau khi phát triển có chiều cao hoặc dài từ 20 – 30cm thì có thể cắt lấy rau. Dùng dao sắc cắt phần thân chồi lá non. Sau thu hoạch bón thúc bằng phân chuồng hoai mục hay phân trùn quế để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất và kích thích rau sớm đôt non mới. Nên thay thế và trồng mới hàng năm

Cây ngải cứu - Artemisia Vulgaris

Dù dùng ở bất kì hình thức nào thì cây ngải cứu cũng có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe và chữa bệnh.

Cây ngải cứu có tên khoa học là Artemisia Vulgaris, thường có mùi thơm nồng và có vị hơi đắng hoặc rất đắng tùy theo mùa. Ngải cứu có thể dùng để chế biến các món ăn hoặc được sao khô lên làm thuốc. Dù dùng ở bất kì hình thức nào thì cây ngải cứu cũng có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe và chữa bệnh.

Dưới đây là một số công dụng phổ biến và hữu hiệu của cây và lá ngải cứu:

1. Làm thuốc điều kinh: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường để uống, chia 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày sẽ thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

2. - Giúp an thai: Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày. Bài thuốc này có tác dụng an thai. Ngải cứu không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai. 

3. Sơ cứu vết thương: Lấy lá ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh, giảm đau nhức,

4. Trị mụn, mẩn ngứa: Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.

5. Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt: Lấy 300gr ngảic cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Uống liên tục trong 1-2 tuần. 

6. Lưu thông máu lên não: Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín rồi ăn. 

7. Suy nhược cơ thể, kém ăn: Lấy 250gr ngải cứu, 2 quả lê, 20gr câu kỷ tử, 10gr đinh quy, 1 con gà ri (gà ác) 150gr, hầm trong 0,5 lít nước (thêm gia vị, bột nêm) còn 250ml. Chia làm 5 phần, ăn cả ngày. Liên tục 1-2 tuần. 

8. Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh: Lấy 300gr ngải cứu, 100gr lá khuynh diệp, 100gr lá bưởi (hoặc quýt, chanh). Nấu trong 2 lít nước. Sôi 20 phút nhấc xuống, xông 15 phút. Cách thứ 2: Nấu lá thuốc cứu với 100gr lá tía tô, 100gr tần dầy lá, 50gr lá sả trong 1 lít nước còn 0,5 lít. Uống mỗi lúc khát, liên tục trong 3-5 ngày.

Ngải cứu được coi là tốt cho sức khỏe nhưng nếu dùng quá nhiều cũng có thể gây ra ngộ độc. Độc tính của ngải cứu khi dùng quá liều là làm cho  thần kinh trung ương bị hưng phấn quá mức, dẫn tới chân tay run giật, sau đó cục bộ hoặc toàn thân co giật; Sau vài lần có thể dẫn đến kinh quyết (co cứng), nói sàm, thậm chí tê liệt. Kiểm tra bằng kính hiển vi có thể phát hiện các tổn thương ở tế bào não. Sau khi khỏi bệnh, vẫn thường để lại những di chứng như hay quên, ảo giác, viêm thần kinh,…

Chữa ung thư bằng lá đu đủ đực

Lá cây đu dủ có thể chứa một thành phần chiết xuất giống như thuốc được điều chế trong phòng thí nghiệm được các nhà khoa học Nhật Bản và Mỹ nghiên cứu có thể chữa bệnh ung thư. Thổ dân Úc cũng dùng phương pháp xắt lá phơi khô dùng để uống chữa khỏi căn bệnh ung thư từ xưa. Vậy lá đu đủ có tác dụng gì:

chữa ung thư bằng lá đu đủ

Thời gian trước, tôi đi làm ngang qua một con hẽm trên đường Tân Sơn Nhì, Tân Phú, thấy có người băm thái nhỏ lá và thân cây đu đủ mà không biết họ làm gì. Tôi vốn cũng là người đam mê hay tìm hiểu về các loài thuốc, biết rằng có thể người ta sắc thái lát phơi khô để uống nhưng do công việc gấp nên tôi không dừng xe hỏi.

Bẫng đi một thời gian, hôm nay dò đọc báo mạng thấy được công dụng của lá đu đủ đực có những công hiệu có thể không được kiểm chứng bằng khoa học nhưng có tác dụng chữa khỏi một số bệnh ung thư.

chữa ung thư bằng lá đu đủ

 Theo một số tạp chí nước ngoài có viết rằng, một bác sĩ người Đức làm việc bên Úc công bố: "Thổ dân Úc đã biết cách dùng lá Đu Đủ chữa khỏi bệnh ung thư". Sau này báo Văn Nghệ Tiền Phong có dịch ra tiếng Việt phổ biến ra cộng đồng.

Đến nay, một số trang web trên internet đã phổ biến rộng rãi nhiều phương pháp nghiên cứu và chữa bệnh ung thư đem đến cứu cánh cho người bệnh. Có thể họ hết hẵn hoặc cũng có thể giúp giảm hết một phần nào chống lại căn bệnh ung thư nguy hiểm đến tính mạng này.

chữa ung thư bằng lá đu đủ

Một số nhà khoa học Nhật Bản và Mỹ vừa phát hiện thêm một tác dụng mới của cây đu đủ: chiết suất từ là đu đủ có đủ khả năng tiêu diệt tế bào ung thư.

Theo một nghiên cứu từ bang Taxas, thì khi uống lá đu đủ khô,  làm tăng trưởng sức mạnh cho số lượng bạch huyết cầu trong người tức sức đề kháng tăng từ từ 100.000 - 1.000.000 lần, do đó đủ khả năng tiêu diệt và sa thải tế bào ung thư đó ra ngoài cơ thể. Đó là nguyên do tại sao khi người bệnh uống có phân đi ra màu đen và rất hôi hám.

Kết quả nghiên cứu mới được đăng tải trên "Tạp chí dược lý dân tộc" của Nhật Bản". Theo phát hiện mới của nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học của Văn phòng thí nghiệm lâm sàng thuộc Trung Tâm Ung thư, Đại học Florida ở Mỹ và Đại học Tokyo ở Nhật Bản, chất chiết suất từ lá đu đủ có khả năng kháng ung thư và hiệu quả này tương thích với tất cả các tế bào ung thư được xây dựng trong phòng thí nghiệm, gồm: ung thư cổ tử cung, ung thư gan, ung thu tuyến tụy, ung thu buồn trứng, ung thư vú, ung thư phổi, ung thư vòm họng,...

chữa ung thư bằng lá đu đủ

Mặt khác, việc sử dụng chất chiết xuất ừ lá đu đủ kháng ung thư còn có ưu điểm là nó không mang độc tính có hại cho các tế bào cơ thể và hệ tuần hoàn máu, không gây ra bất kỳ nào về tác dụng phụ. Nó có thể tiêu diệt tế bào ung thư, nhưng không ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh trung ương, đến các tế bào khỏe mạnh. Vì vậy sẽ tránh được các trường hợp làm tổn thương đến cơ thể người bệnh như khi dùng các biện pháp uống thuốc Tây y thông thường, tiêm truyền hóa xạ trị,...

chữa ung thư bằng lá đu đủ

Sau cùng, tôi xin nói rõ hơn về cách uống lá đu đủ chữa bệnh ung thư:


1/. Hái lá đu đủ rửa sạch, xắt lát nhỏ, phơi khô.

2/. Sao vàng khử thổ, để giữ lâu không bị nấm hay ẩm mốc.

3/. Hàng ngày nấu lấy nước uống như uống trà, không hạn chế.

4/. Nước nấu xong không quá đậm (đắng), chỉ có màu vàng như cánh kiến là được.

5/. Dùng liên tục được 1 tháng, sẽ có nhiều biến chuyển, hạn chế được sự phát triển của bệnh và sau đó bệnh sẽ dần khỏi.

6/. Xay nước mãng cầu xiêm (ngày 1-2ly) cho uống thêm - để tăng thêm sức và góp phần chữa bệnh nhanh chóng.

Khi uống xong khi đi tiểu tiện sẽ đào thải ra chất nhày màu đen. Có hiện tượng tiêu chảy, nhưng dần sẽ khỏi nếu điều chỉnh liều lượng tùy theo cơ địa mỗi người. Khi uống với lượng nước nấu chín với lá đu đủ, sẽ đi đại tiện phân lỏng (tiêu chảy) từ vài ngày cho đến vài tuần. Sau thời kỳ tiêu chảy khoảng 1 tuần, đại tiện sẽ có phâ màu đen và rất hôi. Người bệnh càng nặng thì phân càng hôi và mức độ đen càng cao. Sau vài ngày sẽ trở lại bình thường. Trong các trường hợp này, vẫn tiếp tục uống trà lá đu đủ không được nghỉ (khi nghĩ tế bào ung thư lại tái phát sinh).

Những người đang có ung nhọt, bướu cổ sẽ từ lặn và biến mất.

chữa ung thư bằng lá đu đủ

Tuy nhiên, đây cũng là một liệu pháp cũng có thể thử qua, hiện nay trên các diễn đàn khoa học cũng đang đề xuất mọi người nếu có bệnh ung thư uống bán liên chi và bách hoa xà thiệt thảo cũng là cứu cánh cho người bệnh.

Đối với những bệnh nhân nghèo, đây cũng là phương pháp chữa bệnh tạm thời, chống lại căng bệnh nguy hiểm này giúp họ vui sống cũng gia đình và người thân. Phòn bệnh hơn chữa bệnh, bạn có thể uống để loại bỏ độc chất của nó bằng 2 loại thuốc chúng tôi nêu trên.

P/S: Ngoài ra lá đu đủ còn có tác dụng sau đây:
-Chữa tiểu đường: giúp ổn định đường huyết trở lại.
-Chữa bệnh yếu sinh lý.
-Lọc bỏ độc chất trong máu, tế bào cơ thể.
-Tăng sức đề kháng
Bạn cũng nên nhớ rằng, không nên sử dụng lá đu đủ xanh để uống nhé. Và trà khi uống lá đu đủ khô phải sử dụng mức độ vừa phải, không nên đậm đặc. Chỉ uống nước có màu vàng cánh kiến là được.