Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

THẢO QUẢ

Tên khác: Đò ho – Đậu khấu – Tò ho – Mác hẩu (Thái)
Tên khoa học: Amomum aromaticum Roxb.
Họ: Gừng (Zingiberaceae)
1. Mô tả, phân bố
Thảo quả là cây thảo sống lâu năm, cao tới 2-3m. Cây mọc thành khóm, thân rễ to, mọc ngang, có nhiều đốt. Lá to, dài, mọc so le ôm kín thân. Hoa to, màu vàng mọc thành chùm ngắn ở gốc. Quả hình trứng, mọc dày đặc thành một cụm; khi chín có màu đỏ nâu. Trong chứa nhiều hạt, có mùi rất thơm.
Cây được trồng nhiều Ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Lào cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái… Tỉnh Vân Nam Trung Quốc cũng trồng nhiều Thảo quả.
cay thao qua
2. Bộ phận dùng, thu hái
Bộ phận dùng làm thuốc của Thảo quả là quả. Thu hái vào tháng 9- 12 khi quả đã chín. Hái quả về, phơi hay sấy nhẹ cho khô, độ ẩm không quá 13%. Thảo quả có mùi thơm rất đặc trưng, vị cay và hơi đắng.
Dược liệu Thảo quả đã được ghi trong Dược điển Việt Nam (2002).
3. Thành phần hóa học
Thành phần hóa học của Thảo quả là tinh dầu (1 – 2%). Các hoạt chất cụ thể chưa được xác định.
duoc lieu thao qua
4. Công dụng, cách dùng
Dược liệu Thảo quả có tác dụng bổ tỳ vị, kích thích tiêu hóa, trừ lạnh, tiêu đờm. Dùng chữa các chứng bệnh: Bụng đầy trướng, ăn không tiêu, nôn mửa, sốt rét, ho, tiêu chảy…
Cách dùng:
– Uống: 3 – 6g/ngày, dạng thuốc sắc. Thảo quả thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
– Ngoài công dụng làm thuốc, Thảo quả còn là một loại sản phẩm xuất khẩu có giá trị, mang lại lợi ích kinh tế cao.

HÀ THỦ Ô ĐỎ

Tên khác: Hà thủ Ô – Giao đằng – Địa tinh – Xích thủ ô…
Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson
Họ: Rau răm (Polygonaceae)
1. Mô tả, phân bố
Hà thủ Ô là loại dây leo, sống lâu năm, thân mọc xoắn vào nhau, có màu lục hay hơi đỏ tía. Lá đơn, mọc so le, có cuống dài, phiến lá hình tim, đầu lá nhọn. Hoa nhỏ, mọc thành chùm ở kẽ lá, màu trắng. Quả nhỏ có hai mặt hình thoi, màu nâu.
Cây mọc hoang nhiều ở các vùng rừng núi như: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ… Có thể trồng được bằng hạt hay giâm cành.
cay ha thu o do
2. Bộ phận dùng, thu hái
Bộ phận dùng làm thuốc của cây Hà thủ Ô là rễ củ. Thu hoạch quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu đông, khi cây khô héo. Đào lấy rễ củ, rửa sạch đất cát, loại bỏ rễ con, đem phơi hay sấy nhẹ cho khô (có thể đồ chin trước khi làm khô). Hà thủ Ô có thể chất chắc, màu nâu xám, phần thịt rễ có màu đỏ hồng hay nâu. Hà thủ Ô không mùi, vị đắng, chát.
Dược liệu Hà thủ Ô đã được ghi trong Dược điển Việt Nam (2002).
3. Thành phần hóa học
Hà thủ Ô có chứa antraglycosid, tanin, tinh bột, chất đạm, chất béo, các chất vô cơ…
duoc lieu ha thu o do
4. Công dụng, cách dùng
Dược liệu Hà thủ Ô có tác dụng làm mạnh gân cốt, bồi bổ khí huyết, bổ gan thận, bổ máu và làm đen râu tóc… Dùng chữa các chứng bệnh: Yếu gan thận, đau lưng mỏi gối, thần kinh suy nhược, hoa mắt, chóng mặt, nam giới yếu sinh lý, tóc bạc sớm.
Cách dùng: Uống 6 – 12g/ngày (dạng đã chế biến), bằng cách sắc hay ngâm rượu.
Lưu ý: Hà thủ Ô kỵ sắt; dùng Hà thủ Ô không ăn tiết động vật da trơn, hành tỏi.

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

HOÀI SƠN

Tên khác: Sơn dược, khoai mài, củ mài, chính hoài
Tên khoa học: Dioscorea persimilis Prain et Burk. (Dioscorea oppositifolia Lour.)
Họ: Củ nâu Dioscoreaceae
1 Mô tả, phân bố
Củ mài là một loại dây leo trên mặt đất thân củ. Củ có thể dài đến 1m, đường kính 2-10cm với nhiều rễ con. Thân cây nhắn hơi có góc cạnh, ở kẽ lá có những củ con gọi là thiên hoài hay dái củ mài. Lá đơn, mọc đối hoặc có khi so le, đầu lá nhọn phía cuống hình tim. Phiến lá dài 8-10cm, rộng 6-8cm. Hoa đực hoa cái khác gốc. Quả khô có 3 cạnh và có dìa.
Củ mài mọc hoang khắp vùng rừng núi nước ta, nhiều nhất tại các tỉnh Lào cai, Yên bái, Thanh hóa, Nghệ an Hà tĩnh, Quảng bình.
cay cu mai
2 Bộ phận dùng, thu hái
Bộ phận dùng là củ, mùa đào củ mài tốt nhất là thu đông và đầu xuân. Củ mài đào xong phải chế biến ngay trong ba ngày nếu không sẽ hỏng.
Dược liệu hòa sơn được chế biến từ củ mài xông diêm sinh và sấy khô.
3 Thành phần hóa học
Ngoài tinh bột hoài sơn còn có muxin, allantoin, axit amin, acginin và cholin. Ngoài ra còn có men tiêu hóa mantoza.
duoc lieu hoai son
4 Công dụng, cách dùng
Dược liệu hoài sơn là một vị thuốc bổ, có tác dụng mạnh bổ tỳ vị, chỉ tả, bổ phế thận, sinh tân chỉ khát, bình suyễn sáp tinh. Dùng chữa các chứng bệnh : tả lỵ lâu ngày, tiêu khát, hư lao sinh ho, di tinh, đới hạ, tiểu tiện nhiều lần
Cách dùng: Uống 10 – 20g/ngày dưới dạng thuốc bột hoặc thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các thuốc khác.

SƠN THÙ DU

Tên khác: Sơn thù, thù nhục, táo bì
Tên khoa học: Cornus officinalis Sieb. Et zuce.
Họ: Sơn thù du Cornaceae
1. Mô tả, phân bố
Cây nhỏ, cao chừng 4m, vỏ thân xám nâu, cành nhỏ không có long. Lá mọc đơn đối, có cuống ngắn. Phiến lá hình trứng, đầu nhọn, đáy tròn, mép nguyên, 5-7 đôi gân phụ. Hoa nở trước lá, mọc thành tán. Hoa nhỏ màu vàng. Quả hạch hình trái xoan, dài 1,2-1,5cm, đường kính 7mm, khi chín có màu đỏ tươi, nhẵn nhưng khi khô nhăn nheo hình mạng
Sơn thù du là cây mọc hoang ở Trung quốc và hiện đã được trồng ở một số tỉnh như Hà nam, Sơn đông …
cay son thu du
2. Bộ phận dùng, thu hái
Bộ phận dùng là quả, thu hoạch vào tháng 10-11 lấy quả sấy khô bóc bỏ hạt rồi lại sấy khô tiếp. Quả sạch, thịt dày, màu hồng không bị cháy đen, vị chua là loại có chất lượng tốt
3. Thành phần hóa học
Trong dược liệu sơn thù du có saponozit, tannin, axit galic, axit malic, axit tactric và cocnin.
duoc lieu son thu du
4. Công dụng, cách dùng
Dược liệu sơn thù du có vị chua, có tác dụng bổ can thận, lợi tiểu, hạ huyết áp, làm cho tinh khí bền, cầm không ra mồ hôi. Dùng để chữa các chứng bệnh di tinh, tiểu tiện nhiều lần, kinh nguyệt không đều, ra mồ hôi trộm
Cách dùng: 6 – 12g/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

BA KÍCH

Tên khác: Cây ruột gà – Ba kích thiên – Chẩu phỗng xì (Quảng Ninh)…
Tên khoa học: Morinda officinalis How.
Họ: Cà phê (Rubiaceae)
1. Mô tả, phân bố
Ba kích thuộc loại cây thảo sống nhiều năm, leo bằng thân quấn, dài hàng mét. Thân non có màu tím và có lông, sau nhẵn. Lá mọc đối, hình mác hoặc bầu dục, thuôn, nhọn, cứng, cuống ngắn. Hoa nhỏ, màu trắng hay hơi vàng, mọc tập trung thành tán ở đầu cành. Quả hình cầu, khi chín có màu đỏ. Rễ thắt lại từng đoạn giống như ruột gà.
Cây mọc hoang trong rừng thưa hay rừng thứ sinh. Các tỉnh có nhiều Ba kích là: Quảng Ninh, Phú Thọ, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình…
cay ba kich
2. Bộ phận dùng thu hái
Bộ phận dùng làm thuốc của Ba kích là rễ. Thu hái quanh năm, tốt nhất là vào mùa đông. Chọn những cây mọc lâu năm, đào lấy rễ to (đường kính từ 7mm trở lên), cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô. Ba kích có hình dạng cong queo. Mặt ngoài có màu nâu xám hay nâu nhạt, có nhiều chỗ nứt ngang đến tận lõi. Ba kích có vị hơi ngọt và hơi cay.
Dược liệu Ba kích đã được ghi trong Dược điển Việt Nam (2002).
3. Thành phần hóa học
Ba kích có chứa chủ yếu là antraglycosid, đường, nhựa, acid hữu cơ tinh dầu…; rễ tươi có vitamin C, rễ khô không có.
duoc lieu ba kich
4. Công dụng, cách dùng
Dược liệu Ba kích có tác dụng ôn thận, trợ dương, mạnh gân cốt, trừ phong thấp. Dùng chữa các chứng bệnh: Liệt dương, nam sinh lý yếu, phụ nữ kinh nguyệt không đều, người yếu mệt, đau lưng, mỏi gối…
Cách dùng: Uống 3 – 9g/ngày, dạng thuốc sắc hay ngâm rượu. Có thể dùng phối hợp với các thuốc khác.
Lưu ý: Người âm hư, hỏa vượng, rong kinh, táo bón không dùng.

HƯƠNG PHỤ

Tên khác: Cỏ gấu – Cỏ cú – Sa thảo
Tên khoa học: Cyperus rotundus L.
Họ : Cói (Cvperaceae)
1. Mô tả, phân bố
Cây cỏ sống lâu năm, cao 20 – 40cm. Thân rễ phát triển thành củ, ngắn, màu nâu đỏ. Lá dài, nhỏ, hẹp, ở giữa lá có 1 gân nổi rõ, phần cuống lá phát triển thành bẹ ôm lấy thân cây. Hoa tự tán, trên hoa tự gồm nhiều hoa nhỏ xếp thành bông ở ngọn, màu nâu đỏ. Quả 3 cạnh, màu xám.
Cây mọc hoang khắp mọi nơi, nhất là vùng ven biển và ven sông.
co gau
2. Bộ phận dùng, thu hái
Bộ phận dùng làm thuốc của Hương phụ là thân rễ (rhizome Cyperi). Đào lấy củ ở cây già, phơi khô, vun thành đống, đốt cháy hết lá và rễ con, lấy riêng củ rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, ta được dược liệu Hương phụ. Hương phụ có độ ẩm không quá 13%, tạp chất không quá 0,5%, dược liệu còn rễ con không quá 2%, tỷ lệ tinh dầu ít nhất 0,8%.
Hương phụ đã được ghi trong Dược điển Việt Nam (2002).
duoc lieu huong phu
3. Thành phần hóa học
Dược liệu hương phụ có alcaloid, glycosid, hợp chất flavonoid, tinh dầu. Thành phần của tinh dầu gồm β-selinen, cyperen, α-cyperon, cyperol, cyperolon, cyperotundon; ngoài ra còn đường, tinh bột, pectin, tanin.
4. Công dụng, cách dùng
Hương phụ có tác dụng: điều hòa khí huyết, giảm đau, kiện tì vị, nói chung là tác dụng gần giống Đương quy nhưng kém hơn. Dùng chữa các chứng bệnh: phụ nữ kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, viêm cổ tử cung mạn tính, các bệnh của nữ trước và sau khi đẻ.

HẠ KHÔ THẢO

http://thucvatduoc.com/ha%CC%A3-kho-tha%CC%89o/

Tên khoa học: Prunilla vulgaris L.
Họ: Hoa môi (Lamiaceae = Labiatae)
1. Mô tả, phân bố
Hạ khô thảo thuộc loại cây thảo, sống lâu năm, cao 30 – 40cm. Thân vuông, lá mọc đối chéo chữ thập, phiến lá hình trứng dài, đầu nhọn. Hoa tự bông, mọc Ở ngọn, màu hơi tím
Cây mọc hoang nhiều ở các lỉnh Trung du, miền núi nước ta.
cay ha kho thao
2. Bộ phận dùng, thu hái
Bộ phận dùng làm thuốc của Hạ khô thảo là cụm quả đã phơi hay sấy khô của cây hạ khô thảo
Dược liệu có dạng hình chùy (có thể hơi dẹt do bị ép), màu nâu nhạt hay nâu đỏ, mùi nhẹ. vị nhạt. Độ ẩm không quá 12%, tỷ lệ vụn nát không quá 10%.
Dược liệu Hạ khô thảo đã được ghi trong Dược điển Việt Nam (2002).
3. Thành phần hóa học
Hạ khô thảo có D-fenchon, acid ursolic, tinh dầu, các muối vô cơ và một số chất có tính chất như alcaloid.
duoc lieu ha kho thao
4. Công dụng, cách dùng
Dược liệu Hạ khô thảo có tác dụng làm mát gan, kháng khuẩn, lợi tiểu, tiêu viêm, hạ huyết áp… Dùng chữa các chứng bệnh : viêm sưng vú, viêm tử cung, viêm da, vẩy nến, lở ngứa, mụn nhọt, lao, tràng nhạc, huyết áp tăng, nhức đầu, chóng mặt, đau nhức mắt…
Cách dùng:
– Dùng 9- 1 5g/ngày, dạng thuốc sắc.
– Dùng ngoài, lấy Hạ khô thảo tươi giã, đắp lên chỗ sưng tấy. Trong dân gian, người ta có thể dùng Hạ khô thảo pha nước uống thay trà cho mát. Hạ khô thảo có trong thành phần bát bảo hương trà