Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Cây Găng-Randia tomentosa

http://caytrongvithuoc.com/page/4/
Cây Găng
Còn gọi là Găng trắng, lovieng (Cămpuchia).
Tên khoa học Randia tomentosa (Bỉum. ex. DC.) Hookf. (Gardenia tomentosa Wall).
Thuộc họ Cà phê Rubỉaceae.
A. Mô tả câv
Cây nhỏ cao 4 đến 10m, cành buông thõng, phủ lông tơ, trẻn mặt có nhiều gai to dài l-5cm. Lá hình báu dục đấu hơi nhọn hay tù, phiên lá dai mặt trên xanh lục, mặt dưới có lông tơ màu trắng nhạt hay hơi nâu, dài 2,5-13cm, rộng 1,5-4,5cm. Hoa đơn độc hầu như không cuống, màu trắng nhạt. Đài thường 6, tràng thường 8, nhị 5 đến 10. Quả thịt màu vàng, hình cầu hay hình trứng dài 2,5-4cm, rông 2-4cm, hai ngăn. Hạt rất nhiều, dài 5mm, rộng 3-4mm, có cạnh, lưng tròn, hai bên dẹt, nhắn, màu đen nhạt. Mùa hoa: tháng 3-5, mùa quả: tháng 4-7.
2015-05-18_180137
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang và cũng thường được trồng làm hàng rào do thân và cành có nhiều gai.
Thường trổng để lấy gỗ mịn dai, màu nhạt để tiện những con quay trẻ chơi, trục xe và làm lược. Quả hái vể phơi hay sấy khô dùng để giặt quần áo tơ lụa, gội đầu. Lá tươi hái về vò lấy chất nhầy ãn cho mát.
Còn thấy ở Ất Độ, Thái Lan, Trung Quốc và Inđônêxia.
C. Thành phần hóa học
Trong quả chứa nhiều saponin tritecpenic. Các chất khác chưa thấy nghiên cứu.
D. Công dụng và liều dùng
Chủ yếu nhân dân trồng làm hàng rào, lắy gỗ làm trục xe, làm lược (miền Trung và Nam nước a), tiện con quay.
Quả ngấm hoặc sắc lấy nước dùng gội đầu và giạt quần áo, nhất là những hàng tơ lụa có màu.
Lá tươi dùng làm thuốc giải nhiệt, chữa tiếu vàng, đỏ, đái rắt, ngày dùng 20-30g lá vò với nước sôi để nguội. Lọc nhanh. Để cho dông đặc. Thêm đường vào mà ăn.
2015-05-19_213702

Nàng hai – cây ngứa

Cây thân thảo sống lâu năm cao khoảng 60 đến 150 cm, lan rộng tạo thành vùng riêng của chúng nhờ hệ thống rể dài và phát triển rộng. Tất cả các cơ quan của cây đều được bao phủ bởi một hệ thống lông tuyến.
Có hai loại lông ngứa :
- một loại lông dài, có chất độc làm đau nhức.
- một loại lông ngắn, mềm.
Thân thẳng đứng không phân nhánh, vuông.
Lá, màu xanh đậm hay nhạt, mọc đối, hình trứng, nhỏ, ở đầu ngọn giáo, các tế bào biểu bì có chứa những tiểu thể hóa calci được gọi là cystolithes. Hình dáng của cystolithes kéo dài nhiều hay ít, đây là đặc tính của riêng họ Urticaceae.
Hoa, màu trắng hay trắng ngà, đơn phái, trong chùm gié nhỏ, biệt chu, hoa đực và hoa cái ở riêng biệt 2 cây khác nhau đây là trường hợp dioecy, có những trường hợp 2 hoa đực và cái cùng một chân cây trường hợp monoecy, nhưng rất hiếm.
- Hoa cái gồm 4 cánh hoa, trong đó 2 rất lớn bao lấy một bầu noản 1 tâm bì, và 2 cánh hoa bên ngoài nhỏ .
- Hoa đực, gồm 4 cánh hoa nhỏ, 4 nhụy đực, cong lại trong nút và thẳng ra đàn hồi tại bao phấn, phóng thích đám bụi phấn hoa rất nhỏ.
- Thụ phấn nhờ gió gọi là phong môi.
Quà là bế quả akène hình trứng, được bao bởi 2 cánh hoa lớn.
Bộ phận sử dụng :
- Lá - rể - trái
Thảnh phần hóa học và dược chất :
Lá :
- Nhiều diệp lục tố ( Chlorophylle )
- Vitamines (A, B, C, E)
- Nitrate de potassium,
- calcium,
- Histamine,
- Sérotonine,
- Tanin
- Stérols - Glucoprotéine
- Fer, Magnésium, Soufre,
Acides-alcools :
- acide glycolique
- và  glycérique
Phosphore Poils urticants :
- Acide formique
- Acide acétique
- Choline
- Acéthylcholine
Rể :
- Lectine
- Polysaccharides
- Stérols
- Lignanes
Những hợp chất phénoliques chuổi C6-C3 :
- acides phénols,
- scopolétol,
- aldéhydes,
- alcools phénylpropanique.
Những hợp chất phénoliques chuổi C6-C2 :
- alcool homovanilique tự do
- và glucosyle.
Quả :
- Đạm Protéines
- Chất nhầy Mucilage
- Dầu béo,
- Caroténoïde
Đặc tính trị liệu :
Từ những bộ phận trên không Ortie chữa trị :
- viêm sưng đường tiểu,
- sạn thận,
- đau viêm khớm hay phong thấp,
- viêm mũi dị ứng .
Lọc máu và tái tạo như vậy rất thường dùng để chống lại :
- những chứng bệnh ngoài da
- và chứng lỡ chóc sang thấp.
Ortie làm sạch máu và đặc biệt chữa mụn trứng cá …..
Lá :
- Lợi tiểu (nitrates de potassium, calcium, acides. Alcools)
- Chống viêm sưng (anti-rhumatismales), trường hợp bị phong thấp
- Chống suy nhược (Anti-asthénique )
- Đường máu cao
- Lợi mật, tống đàm
- Giảm co thắc
- tạo sẹo .
Rể :
- Chữa trị Tuyến tiền liệt lành tính ( giai đoạn I và II ) Prostate
- Chống viêm sưng
- Tăng lượng nước tiểu,
- Tăng sức mạnh lưu lượng nước tiểu và giảm lượng nước tiểu còn lại trong bàng quang .
Quả :
- thuốc bổ
- điều chế chất sinh sửa ( Galactogène )
Ứng dụng :
Bởi đường nội tạng :
Rể - Tuyến tiền liệt prostate phù to lành tính ( giai đoạn I và II )
Rể khô : sửa soạn nấu sắc : Để 1, 5 gr rể trong 150 ml nước lạnh. Đun sôi, đun trong 1 phút tắt lửa, ngâm trong 10 phút. Uống một tách ( 150 ml ), 3 hay 4 lấn / ngày .
Rể : Rối loạn thoát tiểu do những bướu tuyến tiền liệt.
- Rể dùng lợi tiểu : Nấu sắc 30 gr – 60 gr trong 1 lít nước, để sôi trong 10 phút, uống 2 ngày.
- Nàng hai trị phong thấp : 50 gr/lít, đun sôi trong 10 phút dùng trong 48 giờ giữa bửa ăn
Lá và hoa phơi khô : Ngâm 2 gr–5 gr  thời gian 10–15 phút, trong 150 ml nước sôi. Uống 3 lần / ngày .
- Lá : Trong phương pháp trị liệu thêm cho tình trạng phong thấp, bệnh viêm sưng đường tiểu, phòng ngừa chứng mất nước và chữa trị chứng sạn thận :
- Đun ngâm lá : Ngâm 10 gr / 500 ml, trong nước đun sôi 10 phút uống 1 tách buổi sáng chưa ăn uống gì cả ( à jeun ), 1 tách 30 phút trước bửa ăn chánh và 1 tách buổi chiều.
- Trà lá Nàng hai và rể :  dùng 50 gr / lít, đun sôi 2 – 3 pjút, ngâm trong 20 phút, uống tùy ý ( chống phong thấp, lọc máu… ).
- Thông thường Nàng hai tác dụng bổ khỏe : Cũng như rau dền épinard nhưng Nàng hai không chứa oxalate rất quý đối với bệnh thấp khớp dùng dưới dạng :
Đun ngâm : dùng 2 muổng cà phê lá khô / tách, ngâm trong nước sôi trong 10 phút, uóng 2 lần / ngày.
Dùng ngoài da :
Tất cả bộ phận cây chứa những chất :
- cầm máu,
-  lợi tiểu
- và lọc máu.
Ngoài ra cây  giàu :
- đạm chất,
-  sinh tố vitamine
- và những muối khoáng .
Phần cây lộ trên không :
- Trị đau viêm khớp và phong thấp
Lá tươi : Đắp lá tươi trong khoảng 30 giây trên phần đau có thể giãm đau viêm khớp ( Ortie có thể dể tìm khắp mọi nơi hay trồng trong chậu để xữ dụng )
Rất hiệu quả trường hợp co thắc tế bào chống lại sự xuất huyết.
- Dùng 100 gr nước cốt từ Ortie ( nghiền nát lá và thân ) 3 lần / ngày : dùng bông gòn thấm nước ortie nhét vào trong lổ mũi sẽ hết chảy máu cam.
- Thuốc trị bệnh : chống đau bệnh thấp khớp ( rhumatismale ) và thúc đẩy phát lộ những mụt đới chẫn ( zona ) bằng cách đập ortie vào chổ đau ( flagellation )
Trái : dùng ngoài da, trị những bệnh ngoài da, do phong thấp .

- Không dùng hạt rất nguy hiễm .
Lá tươi ortie nguyên nhân là da con người nhạy cảm đối với chất ngứa do sự chích của lông tuyến. Nhưng thông thường, nó chỉ đau thoáng qua và không hậu quả gì quan trọng. Nếu ta vì sợ uống thuốc đau nhức như acide acétylsalicylique, mục đích hạ cơn đau thì trái lại hậu quả sẽ nặng hơn . 
Giai thoại :
Ẫm thực : dùng dọt và những lá non
Khi nấu sôi, nhiệt độ tiêu hủy tính độc ( tức khắc ) của chất urticant, sau khi sôi 1 dạo, dùng như rau xanh, hoặc luộc hoặc nấu canh……
Trong thời kỳ đói, người ta dùng thêm với cháo súp.
Nàng hai là một rau xanh tốt rất giàu chất sắt Fe và sinh tố C.
cây nàng hai


Theo: http://nonghoc.com/show-article/14207/nang-hai-%e2%80%93-cay-ngua.aspx#ixzz3qKzxyhZk

Cây Nàng Nàng-Callicarpa cana L.

Cây Nàng Nàng
Còn gọi là trứng ếch, trứng ốc, bọt ếch, nổ trắng, co phá mặc lăm (Thái), pha tốp (Lai Châu), đốc pha nốc (Lào), srul kraham (Cămpuchia).
Tên khoa học Callicarpa cana L.
Thuộc họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhó, cành vuông phủ đầy lông hình sao màu xám, hay trắng nhạt. Lá mọc đối, hình mác hai đầu nhọn, mép có răng cưa, dài 7-20cm, rộng 2,5-llcm, hai mặt đều có lông, mặt dưới nhiều hơn nên có màu trắng bạc. Hoa rất nhỏ màu hồng nhạt mọc thành xim ở kẽ lá, thành hình cầu. Quả hình cầu, nhẵn, màu tía, đường kính 2-3mm, mọc sát nhau.
Mùa hoa quả: Tháng 5-9.
2015-05-20_135710
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại ở khắp những vừng đồi núi miền trung du nước ta, có khi ở ven rừng. Còn thấy mọc ở Philipin, ở các nước nhiệt đới châu Á.
Người ta dùng thân, lá, rễ gần như quanh năm. Hái về phơi hay sấy khô, hoặc hái vể (rễ) rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hóa học
Chưa có tài liệu nghiên cứu.
D. Công dụng và liều dùng
Nàng nàng là một vị thuốc được nhân dàn dùng chữa phụ nữ sau khi đẻ kém ăn, da vàng, bệnh vàng da và để bồi dưỡng.
Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.
Có thể tán bột uống.
Dùng ngoài chữa mụn, lở loét: Lá sao cháy đen, tán bột rắc lên nơi lở loét.
Có thể dùng nấu nước rửa nơi lở loét, mụn nhọt.
Ở Philipin, nhân dàn dùng lá nàng nàng giă nát để đánh bả cá.

Cây Lá Tiết Dê-Cissampelos pareira L.

Cây Lá Tiết Dê
Còn gọi là cây mối tròn, cây mối nám.
Tên khoa học Cissampelos pareira L. (‘Cissampelos convolvulácea Willd.).
Thuộc họ Tiết dê Menispermaceae.
A. Mô tả cây
Tiết dê là một loại dây leo, thân và cành đều mang ít nhiều lông mịn. Lá hình tim, có khi mép hơi khía tai bèo, thường mềm; dài 2-5cm, rộng 3-6cm, có 5 gân chính, hai mặt đều có lông mịn. Cụm hoa đực mọc thành ngù lưỡng phân, có cuống, mọc đơn độc hay từng đôi ở kẽ các lá bắc hình lá. Cụm hoa cái mọc thành xim lưỡng phân, gần như không cuống ờ kẽ các lá bắc hình thận hay hình tròn, nhò, mọc mau. Quả hạch hình cầu, dẹt, đường kính 5mm và có sẹo của vòi ở gốc, màu đỏ có lông. Hạch hình móng ngựa, giữa rỗng, có những mấu sần sùi, nhân có phôi nhũ và phôi cùng dạng.
2015-05-22_231835
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây tiết dê mọc hoang ò khắp nơi đồng bàng cũng như rừng núi trong toàn nước ta. Còn thấy mọc ở Ân Độ, đảo Mactinic, phía đổng châu Phi.
Nhân dân thường hay dùng lá tươi, hầu như quanh năm, giã nát hay vò nát, lọc lấy nước để đông đạc như thạch, uống cho mát, giải nhiệt.
Một số nơi còn dùng rể hái quanh năm về phơi khô hay sao vàng sắc uống.
C. Thành phần hóa học
Trong lá tiết dê có một chất nhầy, chưa thấy được nghiên cứu.
Trong rễ, Fluckiger đã chiết được một ancaloit có yị đắng gọi là cisampelin hay pelosìn với tỷ lệ 0,5%. Chất này giống becberin, có công thức C(9H20N2Or Cisampelin tan trong dung dịch no axit clohyđric, bị kết tủa bởi muối am on, kali nitrat, kali iođua.
Ngoài ra Fluckiger còn lấy ra được một chất nữa, trung tính, kết tinh thành hình phiến nhỏ gọi là deyamitin. Khi trộn tinh thể deyamitin với axit sunfuric ta sẽ thấy màu xanh thẫm sau chuyển màu xanh lục, cuối cùng sang màu đỏ rồi mất dần.
Năm 1952, Bhattacharji s., Sharma V. N. và Dhar M. D. ịj. Sci. Industr. Res. India) đã báo cáo chiết được từ rẽ cây tiết dê một chất ancaloit gọi là hayatin và một ancaloit nữa gọi là hayatinin; ngoài ra còn chiết được quexitol và một sterol.
Cùng trong nãm 1952, các tác giả Ân Độ khác Rey p. K., Dutta A. T., Ray G. K. và Makerji (Indian J. Med.Res) đã nghiên cứu tác dụng dược ‘lý của toàn bộ những ancaloit chiết được từ rễ cây tiết dê đối với chuột nhỏ thì thấy các ancaloit đó độc với liều 50mg trên lkg thể trọng. Nó gây dãn các cơ trơn và kích thích các trung tâm của tủy sống.
Cuối cùng các tác giả Pradhan s. N., Roy c. và Varadan K. s. (ỉnd. Curr. Sci. 21 (6): 172) đã nghiên cứu tính chất curarơ của muối clohydrat, muối methoclorua và muối methoiođua của hayatin.
D. Công dụng và liều dùng
Ở nước ta, lá tiết dẽ là một vị thuốc kinh nghiệm nhản dân rất phổ biến để chữa những trường hợp đi tiểu tiện khó khăn, sốt, lỵ. Nói chung người ta cho rằng lá tiết dê là một vị thuốc “mát” có tác dụng chữa những trường hợp
“nóng” như sốt, nóng, táo bón, tiểu tiện khó khãn đau buốt, ra máu. Hiện nay tại Ân Độ người ta dùng chữa những trường hợp sồi thận và sỏi bọng đái, viêm bọng đái cấp tính và trưcmg diên, viêm thận.
Tại Ân Độ rễ cầy tiết dê được coi là một vị thuốc có tác dụng giúp sự tiêu hóa, thuốc bổ đắng, thông tiểu tiện, chữa sỏi mật.
Rễ hay lá còn được dùng giã nát đắp lên các vết loét.
Ngày dùng: Rễ 5-10g dưới dạng thuốc sắc.
Lá: Thường dùng tươi giã nát vắt lấy nước để đông lại mà uống, Ngày 40-1 OOg lá tươi.
Tại đông châu Phi người ta dùng rễ làm thuốc kích thích tình dục, chữa tê thấp, đau bụng (theo Bally P.R.O .-Native medicinal and poisonous Kew Bull. 1967: 11). Tại đảo Mactinic, lá và quả dùng duốc cá.
Đơn thuốc có lá và rễ tiết dê
Chữa tiểu tiện khố khăn, sất, lỵ: Lá tiết dê tươi 50g, vò nát hay giã nhỏ, thêm ít nước chín nguội, vắt lấy nước, để một chốc cho đông lại, có thể thêm đường cho dể uống.
Chữa chậm tiêu, đau bụng: Rễ tiết dê 4 phần, hạt tiêu 5 phần, gừng 6 phần. Tất cả trộn đều, thêm mật vào nhào thành bột nhão, viên thành viên. Ngày uống 0,20-0,30g thuốc này.
2015-05-22_231103

Long Nha Thảo-Agrimonia nepalensis

Long Nha Thảo
Còn có tên tiên hạc thảo.
Tên khoa học Agrimonia nepalensis D. Don (Agrimonia eupatorio auct. non L.).
Thuộc họ Hoa hồng Rosaceae.
Ta dùng toàn cầy phơi hay sấy khô (Herba Agrinmonìae) của cáy long nha thảo.
A. Mô tả cây
Loại cỏ cao 0,5-l,5m, toàn thân có vạch dọc và mang lông trắng, nhiều cành. Thân rễ mọc ngang, đường kính có thể đạt tới lcm. Lá mọc
so le, kép, dìa lẻ, lá chét hình trứng dài, mép có răng cưa to. Cạnh những lá chét to có nhiều lá chét nhỏ. Lá chét to dài chừng 6cm, rộng chừng 2,5cm, lá chét nhỏ có khi chỉ dài 5mm. Cả hai mặt lá đều mang nhiều lông. Hoa nhỏ mọc thành chùm mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá. Cánh hoa màu vàng. Quả gồm 2-3 quả bế bọc xung quanh bời đế hoa có đài ở mép trên. Toàn bộ có nhiều gai.
2015-05-26_094946
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang ở miền Bắc Việt Nam (quanh thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn), chưa được khai thác ờ nước ta.
Tại các nước khác cũng có: Châu Ãu„ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Thu hái: Thường nở hoa vào mùa hạ. Cây hái vào mùa thu. Phơi khô trong mát.
C. Thành phần hóa học
Nhiều người nghiên cứu, nhưng báo cáo chưa thống nhất.
1. Có tài liệu cũ nói trong long nha thảo có tanịn, có phản ứng phlorofducotanoit, rất ít tính dầu, không có ancaloit, khồng có glucozit, không có chất béo, có sterol và một đường.
2. Năm 1939-1940 và 1950 Ngô Vân Thùy và Cừu Tác Lâm đã nghiên cứu lấy ờ long nha thảo một chất màu đỏ nâu gọi là agrimonim (có c, H, N, O) và nhiều axit tanic.
3. Năm 1958, (heo báo Hóa học thế giới (1-7-1958), các tác giả Hứa Thực Phương và Lưu Tinh Giai đã chiết xuất từ long nha thảo được các chất sau đây:
a) Chất agrimonin A có tinh thể màu trắng, độ chảy 288″-290″, công thức thô tạm định là C29H49Os, có tính chất một sterol;
b) Chất agrimonin B tinh thể màu trắng, độ
chảy 235°, công thức thô tạm định là CMH|(J0lfl có tính chất một axit nhấn vòng;
c) Chất agrimonin c đun tới 340″ thì bị phân giải, có tính chất phenol;
d) Một chất axit là một chất bột, vô định hình, màu nâu hòa tan trong dung dịch kiém rồi sấy khô tức là chất lưu hành trên thị trường với tên long nha thảo tố. Cả 4 chất trên thử dược lý đều không thấy tác dụng cầm máu.
D. Tác dụng dược lý
Long nha thảo có tác dụng tiêu viêm, săn, tăng sự dinh dưỡng của tế bào, tăng sức dông cùa huyết dịch.
Hai nhà nghiên cứu Ngô Vàn Thùy, Cừu Tác Làm đã tiến hành thí nghiệm tác dụng của long nha thảo trên chó, thỏ và ếch đã di đến một số kết luận sau đây:
1. Làm tăng huyết áp cùa chó và thỏ, có lẽ do tấc dụng co mạch.
Đối với ếch liều nhỏ có tác dụng làm tim đập mau (tăng tần số tim đập) và làm hẹp biên độ, liều lớn có lác dụng làm liệt tim.
2. Làm tăng tốc độ đông cùa huyết dịch.
3. Kích thích trung khu hô hấp, liều cao, lúc đấu gây hô hấp mau lôn, nhung về sau lại suy yếu. Liều độc đối với thỏ là 0,2g/kg thể trọng.
4. Đối với tử cung cô lập, liều nhỏ hơi có tác dụng hưng phấn, liều cao ngược lại, có tác dụng di hoãn.
5. Đối với cơ cùa xương thì có tác dụng hưng phấn, nhưng đối với thần kinh cơ ở các khớp thì lại hơi có tác dụng tê như hiện tượng trúng tên độc.
6. Hơi làm dãn đồng lử của ếch.
7. Tăng sức đề kháng của tế bào.
8. Làm hạ huyết đường.
9. Không có ảnh hưởng đối với trung khu thần kinl) và thần kinh giao cảm.
E. Công dụng và liều dùng
Nhân dân dùng long nha thảo làm thuốc cầm máu chữa bệnh đi ỉa ra máu, thổ huyết, ho ra máu, đổ máu cam, tử cung xuất huyết. Ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sắc, chia nhiều lần uống trong ngày.
Còn dùng làm thuốc bổ tim, chữa mụn nhọt, chữa lỵ.
Các đơn thuốc có long nha thảo
Long nha thảo tố:
Thuốc tiêm chế bằng thuốc sắc long nha thảo đã loại tanin, saponin, đưcmg, protit. Sau đó dùng dung môi tinh chế nhiều lần được chắt vố định hình thì chế thành thuốc tiêm, mỗi ống 5ml có 0,01 g long nha thảo tố.
Có khi chế thành thuốc nước hoặc viên, dùng
trong các trường hợp bị thương băng huyết tử cung, xuất huyết, thay ecgotin.
Ái mẫu ninh:
Long nha thảo tố và cao lỏng đương quy chế thành thuốc viên, ngày dùng 3 lần, mỗi lần 2-4 viên.
Dung dịch ái mầu ninh:
Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa con.
2015-05-26_101947

Cây Địa Du- Sanguisorba officinalis L.

Cây Địa Du
Còn gọi là ngọc trát (Trung Quốc), sanguisorbe officinale, grande pimprenelle (Pháp), Pimpernel (Anh).
Tên khoa học Sanguisorba officinalis L.
Tên địa du vì địa là đất, du là cây du. Cây địa du lúc mới mọc lên, lá giống cây du, lan khắp trên mặt đất, nên đặt tên như vậy.
A. Mô tả cây
Loài cây sống dai, cao 0,30m đến l,5m, có khi đạt 2m. Thân rỗng, mọc thẳng đứng, nhẵn, mang ít lá. Lá dài 30-40cm, kép lông chim lẻ, 5-15 lá chét, hình trứng, mép răng cưa to, tù. Hoa màu đỏ máu sẫm, lưỡng tính, nhỏ, tụ thành cụm hình trỏng, ra hoa suốt mùa hè (từ tháng 7-9), quả nhẵn, màu nâu, hơi bốn cạnh, chứa một hạt. Rễ bò ngẫm dưới đất, màu nâu.
2015-06-02_233550
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Vốn không mọc ở nước ta. Nhập trồng nhưng chưa nhiều. Dùng làm thuốc: Toàn cây và rẽ (thu hoạch trước khi cây ra hoa).
C. Thành phần hoá học
Thành phần chủ yếu trong địa du là tanin, saponosit, flavon. Người xưa, dựa vào màu đỏ của hoa, liên hệ đến tác dụng cầm máu, chảy máu đường tiêu hoá, đưòtag tiểu, thận, còn dùng trong ỉa chảy, khí hư. Có lẽ chất tanìn là thành phần chủ yếu trong địa du.
D. Công dụng và liều dùng
Địa du được dùng trong cả đống y và tây y. Táy y dùng tính chất cầm máu, giúp sự tiêu hoá, rửa vết loét, khí hư. Y học cổ truyền đánh giá tính chất địa du vị đắng, tính hơi hàn (lạnh), không có độc. Có tính chất mát huyết, cầm máu.
Dùng trong những trường hợp phụ nữ tắc sữa, khí hư, thấy kinh đau bụng, còn dùng chữa nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, ỉa chẩy, kinh nguyệt ra nhiều, mọi chứng huyết của phụ nữ sau khi sinh nở. Ngày uống 5-10g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kế liều lượng.
Đơn thuốc có địa du
Dùng trong mọi trường hợp băng huyết, cháy máu cam, đi ngoài ra máu … Địa du 7g, a giao 3g, đại táo 50g, cam thảo 2g. Nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. (Đơn của Diệp Quyết Tuyền).
2015-06-02_234124

Cây Bạch Tật Lê tăng cường sinh lý nam tốt hơn Viagra

Cây tật lê mà dân ta thường gọi là cây Gai chống có tác dụng trị benh yeu sinh ly nam gioi; nếu dùng đều đặn thì chỉ từ 1- 2 tuần là thấy được sự cải thiện đáng kể.
Trước đây, cũng trên chuyên mục này, báo GĐ&XH Cuối tuần từng đề cập tới yohimbine – cây thuốc được các nhà sản xuất sử dụng rất nhiều trong việc bào chế sản phẩm hỗ trợ tăng cường bản lĩnh đàn ông.
Nhưng hiện tại, không cần phải tới tận châu Phi để tìm kiếm yohimbine, Việt Nam cũng có một loài thảo dược với công dụng không kém gì Viagra lại rất dễ tìm kiếm. Đó là tribulus terrestris, thuộc gia đình thực vật zygophyllaceae và được gọi tại Việt Nam là cây tật lê cùng những tên khác như gai chống, gai ma vương, thích tật lê…
Cây tật lê trị benh yeu sinh ly nam gioi.

Chứa nhiều chất có tác dụng cường dương

Tật lê mọc phổ biến tại Ấn Độ, Hồng Kông, Việt Nam, vài vùng tại Âu châu và Nam Phi, trên những vùng đất hoang dại. Tại Việt Nam, loài cây này mọc hoang ở những vùng đất khô, đất cát dọc vùng ven biển từ miền Trung (Quảng Bình) xuống miền Nam. Cây thuộc loại thân thảo, bò sát mặt đất, phân nhiều nhánh, trên thân có lông nhung ngắn, trổ hoa vào cuối mùa xuân, đầu mùa hạ.
Tật lê từ lâu đã được sử dụng tại các quốc gia châu Á để trị một số bệnh trong dược học dân gian. Người dân Hồng Kông dùng tật lê để trị cùi, ghẻ, đầy hơi, sưng gan, đau mắt, bệnh thận… Từ thời cổ đại, cách đây khoảng 4000-5000 năm trước, y học Ấn Độ đã dùng tật lê làm thuốc tráng dương, bổ thận, điều trị đau lưng, tinh dịch ít, gầy yếu…Tại Việt Nam, hầu như người dân chưa biết đến tác dụng tăng cường chức năng tình dục của loại thảo dược này mà chỉ dùng Tật lê để trị đau đầu, đỏ mắt, chảy nhiều nước mắt, phong ngứa, kinh nguyệt không đều, sữa không thông…
Tật lê từng được sử dụng như một chất kích thích sinh dục, làm tăng kích thước dương vật, tăng cường sinh lực trong y học cổ truyền Ấn Độ và Hồng Kông. Gần đây, các nghiên cứu của y học hiện đại càng góp phần khẳng định quan niệm của y thuật dân gian cho rằng loại thảo dược này có tác dụng mạnh mẽ đối với khả năng tình dục của nam giới.
Các nhà khoa học Bungari là những người đầu tiên công bố về hoạt tính androgen (các hợp chất tự nhiên hay tổng hợp thường là hormon steroid có chức năng kích thích và kiểm soát sự phát triển, duy trì đặc tính nam ở động vật có xương sống – PV) có trong cây tật lê trên các cơ sở nghiên cứu hoá học, dược lý, lâm sàng hiện đại.
Theo đó, toàn cây tật lê có chứa saponin steroid, chất này khi thuỷ phân sẽ cho diosgenin, hecogenin, tigogenin và pseudodiosgenin… Các saponin này có tác dụng làm tăng sinh tổng hợp testosteron trong cơ thể nam giới và do hàm lượng testosteron trong máu được nâng cao lên 30 – 40%, cơ thể trở nên sẽ tươi trẻ, cường tráng, tăng sinh lực.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn xác định được tật lê làm tăng oxit nitric – một chất hóa học giúp làm giãn nở các mạch máu trong cơ thể, do đó có thể làm cương cứng cơ quan sinh dục nam. Như vậy, với những người bị chứng bất lực, sử dụng cây tật lê trong thời gian dài sẽ cho hiệu quả rất tốt. Ngoài các saponin thì thành phần hóa học của tật lê còn gồm ancaloit 0,001%, chất béo 3,5%, ít tinh dầu, chất nhựa, rất nhiều natri, chất phylloerythrin, tannin, flavonozit…
Đặc biệt, chất protodioscin trong quả của nó có tác dụng kích thích tình dục cũng như làm tăng áp lực của thể hang trong dương vật khiến cho tần suất giao hợp và xuất tinh đều tăng đã được chứng minh trên chuột đực thực nghiệm tại Hồng Kông và Ấn Độ. Tuy nhiên, lượng protodioscin trong cây tật lê biến đổi thường xuyên, khó định được hàm lượng chính xác.

Trở thành dược phẩm bán chạy

Một nghiên cứu về tác dụng của tật lê trên các tế bào xốp (corpus cavernosum) ở cơ quan sinh dục thỏ đã được thực hiện tại Đại học Y Khoa Singapore. Theo đó, thỏ được cho uống mỗi ngày một lần dịch trích từ loài thảo dược này, liên tục trong 8 tuần, theo những liều lượng khác nhau. Thỏ sau đó bị giết và mô tế bào bộ phận sinh dục được cô lập để lượng định sự đáp ứng với thuốc và với sự kích ứng bằng điện trường. Kết quả cho thấy, tật lê thực sự có tác dụng tới khả năng cường dương ở thỏ do sự gia tăng phóng thích nitric oxit từ tế bào endothelium và tế bào thần kinh nitrergic.
Nghiên cứu kế tiếp, cũng tại Đại học Y Khoa Singapore (đăng trên Tạp chí Khoa học đời sống Singapore số 71, tháng 8/2002) đã thử nghiệm tật lê trên chuột, chia thành 2 nhóm: Nhóm bình thường và nhóm bị thiến, cho dùng chiết xuất từ thảo dược và đối chứng với testosterone; các thông số nghiên cứu dựa trên các hoạt động tình dục và áp lực trên các tế bào xốp nơi bộ phận sinh dục như số lượt muốn giao cấu, muốn nhẩy đực, thời gian xuất tinh… Kết quả cho thấy, nhóm dùng tật lê có những gia tăng hoạt động tình dục rõ rệt, riêng nhóm chuột bị thiến có sự gia tăng trọng lượng của tuyến nhiếp hộ và áp lực trên các tế bào xốp.

Cùng với cây yohimbine chỉ có ở châu Phi, tật lê được đánh giá là loại thảo dược có hoạt tính cao nhất và an toàn nhất để tăng cường sinh lực tình dục cho nam giới; giúp bổ sung hóc-môn nam, kéo dài thời gian hoạt động tình dục, giúp quá trình phục hồi sau khi quan hệ tình dục diễn ra nhanh chóng. Cách dùng tật lê thường là sắc uống hoặc nấu cao. Ở nước ta, người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận đã sử dụng loại cây này từ lâu để trị suy yếu hoạt động tình dục của nam giới và trị bệnh đau mắt, viêm họng.
Năm 1989, TS. Phan Quốc Kinh, hiện là Viện trưởng Viện thực phẩm chức năng đã nghiên cứu cây tật lê mọc hoang với trữ lượng lớn ở Thuận Hải và xác định tật lê Việt nam cũng có chứa tỉ lệ cao saponin steroid mà genin chính là diosgenin giống như tật lê ở Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó, TS. Phan Quốc Kinh đã tiến hành chiết xuất cao cồn tật lê ở Bình Thuận, Ninh Thuận và bào chế thành các viên nang 300mg.Thuốc đã được thử lâm sàng tại Viện y học cổ truyền Việt nam do GS. Trần Thuý – Viện trưởng chủ trì. Qua thử nghiệm cho các bệnh nhân nam cho thấy, tật lê, thường được gọi là Gai chống, ở nước ta có tác dụng tăng cường sinh lực và nâng cao khả năng sinh dục như các chế phẩm tương tự của nước ngoài. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, chế phẩm từ thiên nhiên này giúp làm tăng sức, tăng lực và tăng khả năng chịu đựng của chiến sĩ nơi thao trường, bộ đội đặc công.
“Cây tật lê mà dân ta thường gọi là cây Gai chống có tác dụng rất lớn đối với sức khỏe tình dục nam giới; nếu dùng đều đặn thì chỉ từ 1- 2 tuần là thấy được sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, do thích hợp với địa hình đất cát nên nó chỉ mọc được ở vùng ven biển thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên… Đồng bào Chăm đã sử dụng loài cây này từ lâu để tăng cường sinh lực, bổ thận, tráng dương, điều trị rối loạn cương dương… Chúng tôi đã phối hợp với hai trường Đại học hàng đầu Anh và Hà Lan để nghiên cứu về Tật lê và thấy rằng loài thảo dược này quả thật có tác dụng không kém gì Viagra.
Hiện nay, tật lê đã được các công ty dược phẩm sử dụng để sản xuất các loại thuốc, thực phẩm chức năng tăng cường sinh lý và bán rất chạy. 
Thảo dược bạch tật lê ở Việt Nam dể tìm kiếm, mọc hoang ở Việt Nam qua các nghiên cứu gần đây thì công dụng tăng cường sinh lý đàn ông, bổ thận tráng dương tốt hơn cả Viagra.
Các nghiên cứu gần đây càng góp phần khẳng định quan niệm của y học dân gian là đúng đắn khi cho rằng bạch tật lê có tác dụng mạnh mẽ lên khả năng tình dục của nam giới.
Bạch tật lê là loại quả khô có tên dược học là Fructus Tribuli. Quả bạch tật lê là quả của cây thực vật Tribulus terrestris L (còn gọi là thích tật lê), thuộc họ tật lê Zygophyllaceae.
Tật lê từ xa xưa đã được sử dụng như một vị thuốc dân gian của các nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam... Tại Trung Quốc, người ta dùng tật lê để trị bệnh thận, sưng gan, đầy hơi, ghẻ lở...
Người Ấn Độ lại dùng tật lê làm vị thuốc bổ thận, tráng dương, cải thiện tình trạng tinh dịch ít, đau lưng của nam giới...
 CÂY BẠCH TẬT LÊ
1. Tên gọi cây Bạch Tật Lê
- Tên thường gọi: Cây tật lê, gai ma vương, thích tật lê, gai sầu, gai trống, gai yết hầu,
- Tên khoa học: Fructus Tribuli, Tribulus terestris L.
2. Mô tả đặc điểm
Tật lê là loại cây thân thảo bò lan trên mặt đất. Chiều dài cây khoảng từ 30 - 60cm, thân cây có lông ngắn.
Lá tật lê mọc đối nhau. Bề mặt lá phủ lông trắng mịn bên dưới, có màu nâu nhạt, mùi thơm nhẹ.
Hoa tật lê màu vàng, mọc ra từ kẽ lá, gồm có 5 đài và 5 cánh, 10 nhị bầu, 5 ô. Hoa thường nở vào cuối xuân đầu hạ.
Quả tật lê nhỏ gồm 5 vỏ cứng trên có gai nhọn hình 3 cạnh, dưới lớp vỏ dày là hạt có phôi không nội nhũ.
- Khu vực phân bố: Là loại cây mọc hoang ở những vùng đất khô cằn, đất cát dọc ven biển, đặc biệt là khu vực ven biển Miền Trung nước ta.
- Bộ phận dùng: Bộ phận được dùng làm thuốc của Cây tật lê là quả ( quả có cả gai). Bạch tật lê là quả chín phơi khô của cây tật lê, vì quả có gai nếu dẫm phải thường sinh bệnh thối thịt như bị ma quỷ nên còn gọi là Gai ma vương.
Ở Việt Nam, cây tật lê mọc hoang rất nhiều ở các vùng đất ven biển từ Quảng Bình trở vào, có rất nhiều ở Bình Thuận,... 
Người dân chủ yếu dùng để trị bệnh về mắt như đau mắt đỏ, chảy nước mắt... chữa kinh nguyệt không đều, tắc sữa, đau đầu... mà ít ai biết rằng loại cây này có tác dụng tăng cường chức năng tình dục cực tốt, chẳng kém gì Viagra.
Hạt bạch tật lê - tăng cường sinh lý nam
Hạt bạch tật lê - tăng cường sinh lý nam
3. Dược tính
Qua các công trình nghiên cứu cho thấy trong Bạch tật lê có chứa các chất: Ancaloit 0,001%, chất béo 3,5%, tinh dầu, rất nhiều natri, phylloerythrin, tannin, flavonozit, nhiều saponin mà trong đó có diosgenin, gitogenin và clorogenin, là các hoạt chất có tác dụng tăng cường sinh lý.
Đặc biệt hoạt chất protodioscin trong Bạch tật lê có tác dụng kích thích tình dục: Tăng tần xuất giao hợp, tăng cường khả năng cương cứng của dương vật
Thành phần của Bạch tật lê không có chất nào tương tự Testosteron, khả năng tăng cường tình dục của cây thuốc này là do tác dụng lên hệ dưới đồi – tuyến yên dẫn đến tăng tiết testosteron một cách tự nhiên
Loại quả được quý ông săn lùng làm "bùa tráng dương" nhiều nhất
Theo Đông y, bạch tật lê có vị đắng, tính ôn, đi vào hai kinh can và phế. Có công năng bình can, giải uất, tán phong, thắng thấp, hành huyết, tả phế.
Chất Saponin từ bạch tật lê có tác dụng làm giãn động mạch vành, hạ đường huyết, ức chế tế bào ung thư vú.
4. Công dụng
- Chứng can dương vượng biểu hiện hoa mắt, chóng mặt, cảm giác căng đau ở đầu.
- Chứng can khí uất biểu hiện như vú cương, cảm giác bứt rứt trong ngực, vùng thượng vị, tắc sữa.
- Chứng phong nhiệt trong huyết biểu hiện mẩn ngứa.
- Tác dụng đến hệ dưới đồi của tuyến yên, dẫn đến tăng lượng Testosteron một cách tự nhiên, do vậy rất an toàn khi sử dụng
- Bạch tật lê có tác dụng tăng cường sinh lý nam giới ( tác dụng này được cho là còn mạnh hơn cả Sâm Alipas, Viagra )
- Chữa bệnh yế sinh lý, liệt dương
- Trị chứng suy giảm chức năng sinh lý Nam giới, đặc biệt là độ tuổi trung niên
- Trị các bệnh về mắt ( đau mắt đỏ, chảy nước mắt)
- Tác dụng lợi tiểu, chống đóng kết sỏi ở thành bể thận
- Tác dụng hạ huyết áp
- Tác dụng cân bằng và bảo vệ tế bào gan
5. Đối tượng sử dụng
Người suy giảm chức năng sinh lý
Người bị liệt dương, vô sinh do dương vật không thể cương cứng
Người bị các bệnh về mắt
Người huyết áp cao
Người mắc bệnh sỏi thận
Người thường xuyên sử dụng bia rượu
6. Cách dùng
Có hai cách dùng bạch tật lê là sắc thuốc và ngâm rượu
- Cách sắc thuốc:
Cần sao cháy xém phần vỏ, rồi giã để hạt bạch tật lê vỡ đôi hoặc vỡ ba để sử dụng
Định lượng: Ngày 10gram sắc với 1 lít nước, uống trong ngày
- Cách ngâm rựu:
Bài 1. Ngâm độc vị bạch tật lê
Sao cháy xém phần vỏ, rồi giã để hạt bạch tật lê vỡ đôi hoặc vỡ ba. 1Kg Bạch tật lê ngâm với 5 lít rượu trắng
Ngâm trong thời gian 20 ngày có thể sử dụng: Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ trong mỗi bữa ăn
Bài 2. Ngâm phối hợp nhiều vị
Kết hợp bài rượu thuốc cổ truyền, ta có thể kết hợp bạch tật lê với các vị thuốc sau khi ngâm để tăng cường hiệu quả của rượu bạch tật lê:
Bạch tật lê: ………… 1kg
Dâm dương hoắc: 0.5kg
Kỷ tử: ………………. 0.3kg
Viễn chí: …………… 0.3kg
Rượu gạo : ………… 10 lít
Ngâm chung các vị trên với 10 lít rượu, ngâm trong thời gian 1 tháng trở lên là có thể sử dụng được. Mỗi ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần dùng 1-2 ly nhỏ.
CÂY BẠCH TẬT LÊ tăng cường sinh lý nam tốt hơn Viagra
Từ thời cổ đại cách đây khoảng 4000 - 5000 năm, người Ấn Độ đã phát hiện ra tác dụng cường dương của bạch tật lê.
Y học cổ truyền Trung Quốc cũng ghi lại những chứng cứ chứng tỏ tật lê được sử dụng như 1 loại chất kích thích sinh dục, làm tăng kích thước dương vật, tăng cường sinh lực...
Các nghiên cứu gần đây càng góp phần khẳng định quan niệm của y học dân gian là đúng đắn khi cho rằng loại thảo dược này có tác dụng mạnh mẽ lên khả năng tình dục của nam giới.
Công trình nghiên cứu đầu tiên là của các nhà khoa học Bulgari cho thấy, toàn cây tật lê có chứa saponin steroid. Chất này khi thuỷ phân sẽ cho diosgenin, hecogenin, tigogenin và pseudodiosgenin…
Các saponin này có tác dụng làm tăng sinh tổng hợp testosteron trong cơ thể nam giới và do hàm lượng testosteron trong máu được nâng cao lên 30 – 40%, cơ thể trở nên sẽ tươi trẻ, cường tráng, tăng sinh lực.
Những nghiên cứu khác tại các viện nghiên cứu và các trường đại học trên toàn thế giới đều cho thấy loại thảo dược này có tác dụng không hề thua kém viên thuốc Viagra trong việc điều trị chứng rối loại cương dương, tăng cường khả năng tình dục ở nam giới.
VnExpress ngày 20/3/2009 dẫn lại nguồn tin từ AFP cho biết các nhà khoa học Đức đang nghiên cứu phát minh ra một chế phẩm từ một số loại thảo mộc, trong đó có tribulus terrestris, giúp tăng khả năng tình dục, tăng khả năng cương cứng còn hơn cả Viagra.
"Trong thử nghiệm, 50 nam giới đã có sex tuyệt vời hơn nhiều sau đó, thấy hứng thú hơn trên giường và nói chung cảm giác về bản thân tốt hơn hẳn", tờ Sueddeutsche Zeitung dẫn lời Olaf Schroeder, tại Bệnh viện Charite ở Berlin,
"Dục năng của họ thậm chí còn cao hơn nhóm đối chứng sử dụng Viagra", ông cho biết.
Đặc biệt, chất protodioscin trong quả bạch tật lê có tác dụng kích thích tình dục.
Những tác động đến hoạt động tình dục của quả bạch tật lê cụ thể là làm tăng áp lực của thể hang trong dương vật giúp dương vật cương cứng hơn, tần suất giao hợp và xuất tinh đều tăng lên so với bình thường.
Ngoài ra, tật lê làm tăng oxit nitric - một chất hóa học giúp làm giãn nở các mạch máu trong cơ thể, do đó có thể làm cương cứng cơ quan sinh dục nam. Với những người bị chứng bất lực, sử dụng cây tật lê trong thời gian dài sẽ cho hiệu quả rất tốt.
Ở Việt Nam, ngay từ năm 1989 đã có công trình nghiên cứu về cây tật lê mọc hoang của TS. Phan Quốc Kinh, hiện là Viện trưởng Viện thực phẩm chức năng.
Kết quả cho thấy, cây tật lê mọc hoang ở nước ta cũng có tỉ lệ cao saponin steroid mà genin chính là diosgenin giống như tật lê ở Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, tức là chúng cũng có tác dụng tăng cường sinh lực và nâng cao khả năng sinh dục.
VIỆN TRƯỞNG VIỆN THỰC PHẨM CHỨC NĂNG TS. PHAN QUỐC KINH
“Cây tật lê có tác dụng rất lớn đối với sức khỏe tình dục nam giới. Nếu dùng đều đặn thì chỉ từ 1- 2 tuần là thấy được sự cải thiện đáng kể. Đồng bào Chăm đã sử dụng loài cây này từ lâu để tăng cường sinh lực, bổ thận, tráng dương, điều trị rối loạn cương dương… Chúng tôi đã phối hợp với hai trường Đại học hàng đầu Anh và Hà Lan để nghiên cứu về tật lê và thấy rằng loài thảo dược này quả thật có tác dụng không kém gì Viagra". (Theo Gia đình và xã hội)
Lưu ý khi sử dụng bạch tật lê:
Các nhà khoa học lưu ý rằng khi sử dụng bạch tật lê cần chú ý đến những tác dụng phụ của loại thảo dược này như gây rối loạn vận động, yếu liệt hai chi sau trên cừu, tác dụng gây đau dạ dày, tiêu chảy ở người.
Vì thế, nếu muốn sử dụng cần tuân thủ liều dùng được khuyến cáo từ 250 mg – 1500 mg chế phẩm cao tinh chế /ngày, hoặc 10 -12 g cây khô. Dùng dưới dạng sắc nước uống hoặc nấu cao.
Quý độc giả có câu hỏi, thắc mắc hoặc yêu cầu tư vấn về các vấn đề sức khỏe, bài thuốc chữa bệnh xin gửi câu hỏi vào ô Bình luận ở dưới cuối mỗi bài viết.
Còn gọi là bạch tật lê, gai ma vương, thích tật lê, gai sầu, gai trống, gai yết hầu.
Tên khoa học Tribulus terrestris
Thuộc họ tật lê là quả chín phơi hay sấy khô của cây tật lê. Vì quả có gai, giẫm phải thường sinh bệnh thối thịt như bị ma quỷ cho nên còn có tên gai ma vương.
A. Mô tả cây
Loại cỏ bò lan trên mặt đấtm nhiều cành dài 2-3cm, kép lông chim lẻ, 5-6 đôi lá chét đều, phủ lông trắng mịn ở mặt dưới. Hoa màu vàng, mọc riêng ở kẽ lá, cuống ngắn, 5 lá đài 5 cánh hoa., 10 nhị, 5 bầu ô. Hoa nở vào mùa hè. Quả nhỏ khô, gồm 5 vỏ cứng trên có gai hình 3 cạnh, dưới lớp vỏ dày là hạt có phôi không nội nhũ
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Tật lê mọc hoang ở ven biển, ven sông các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị,Thừa Thiên Huế, và các tỉnh phía nam nước ta. Còn mọc ở các nước á nhiệt đới. Vào các tháng 8-9, quả chín thì đào cả cây hay cắt lấy phần trên cây về, phơi khô, dùng gậy cứng đạp và chọn lấy những quả già. Thường dùng sống hay hơi sao qua cho cháy gai rồi sàng sảy bỏ gai giã nát vụn mà dùng.
C.Thành phần hoá học
Trong quả chứa 0.001%ancaloit, 3.5% chất béo, một ít tinh dầu và rất nhiều nitrat, chất phylloerythrun, tamin, flavonozit, rất nhiều saponin.
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ tật lê có vị đắng, tính ôn, vào hai kinh can và phế, có tác dụng bình can, tán phong, thắng thấp, hành huyết, dùng chữa các bệnh Nhức đầu, mắt đỏ, nhiều nước mắt, phong ngứa, tích tụ, tăc sữa. Những người huyết hư, khí yếu không dùng được.
Hiện any tật lê thường dùng chữa đau mắt, nhức vùng mắt, chảy nước mắt. Ngoài ra còn dùng làm thuốc bổ thận, trị Đau lưng, tinh dịch không bền, gầy yếu, chảy máu cam,lị, súc miệng chữa loét miệng. Mỗi ngày dùng 12-13g dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc. Toàn cây còn dùng cho súc vật ăn và nhiều photpho.
Đơn thuốc có tật lên
Chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng: tật lê 12g, đương quy 12g, nước 400ml, sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày.
Chữa đau mắt: Cho tật lê vào chén nước. Đun sôi. Hứng mắt vào hơi nước.