|
|
LƯỢC VÀNG
1. Tên khoa học: Callisia fragrans (Lindl.) Woodson.
2. Họ: Thài lài (Commelinaceae).
3. Tên khác: Lan vòi, địa lan vòi, lan rũ, cây bạch tuộc, rai lá phất dũ, giả khóm.
4. Mô tả:
Cây
thảo, sống lâu năm. Thân đứng cao từ 15-40 cm, có thân bò ngang trên
mặt đất. Thân chia đốt và có nhánh. Đốt ở phía thân dài từ 1-2 cm, ở
nhánh có thể dài tới 10 cm. Lá đơn, mọc so le, phiến lá thuôn hình ngọn
giáo, 15-20 cm x 4-6 cm, bề mặt nhẵn, mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới,
mọng nước. Bẹ lá ôm khít lấy thân. Mép lá nguyên, thường có mầu vàng khi
lá già. Gân lá song song. Lá thường có mầu tím ở những cây có nhiều ánh
sáng. Hoa hợp thành xim, sắp xếp ở ngọn một trục dài và cong thành
chùm. Cụm hoa không cuống, gồm 6-12 bông. Hoa mầu trắng, có cuống, cuống
hoa dài 1 mm. Lá bắc ngoài cụm hoa hình vỏ trấu, 1 cm x 1 cm, mầu vàng.
Lá bắc của hoa hình lòng thuyền, kích thước 1,5 mm x 3 mm, phần dưới
trắng, phần trên xanh, mép nguyên, có lông mịn phía dưới. Tràng 3, hình
trứng, kích thước khoảng 1 mm x 2,5 mm, mầu trắng, mép nguyên. Nhị 6,
rời, chỉ nhị dài khoảng 1,5 mm, phần dưới dính với cánh hoa, bao phấn
hình hạt đậu, kích thước khoảng 1/3 x ¼ mm, đính vào hai bên trung đới.
Bầu trên, 3 ô, cao khoảng 0,5 mm, vòi nhụy hình trụ, dài khoảng 1,5 mm,
núm nhụy hình chổi.
5. Phân bố:
Cây
có nguồn gốc ở Mexico, được di thực sang nước Nga, rồi đến Việt Nam
(đầu tiên là tỉnh Thanh Hóa). Nay đã phát triển rộng ra nhiều tỉnh khác,
đặc biệt là Hà Nội.
6. Trồng trọt:
7. Bộ phận dùng:
Toàn cây
8. Thành phần hóa học:
Các
lipid gồm: Triacyglyceride, sulfolipid, digalactosyglycerides. Các acid
béo: paraffinic, olefinic. Acid hữu cơ. Các sắc tố caroten, chlorophyl.
Phytosterol. Các vitamin PP, B2 và các nguyên tố vi lượng: Fe, Cr, Ni,
Cu. Các flavonoid: quercetin, kaempferol isoorientin
(3′,4′,5,7-tetrahydroxyflavone-6-C-β-D-glucopyranoside).
9. Công năng:
Thanh nhiệt, giải độc, nhuận phế, tiêu viêm, hóa đàm, lợi thủy.
10. Công dụng:
Việc
sử dụng cây Lược vàng làm thuốc mới chỉ được công bố ở Nga theo bài
viết của tác giả Vladimir-Ogarkov đăng trên tạp chí sức khỏe và đời sống
của Nga. Cây Lược vàng được dùng để chữa bệnh đường dạ dày ruột, túi
mật, lá lách và cả bệnh hen phế quản, dị ứng và ung thư. Các chế phẩm
thuốc từ Lược vàng cũng có hiệu quả làm ngừng đau, trừ ngứa, làm liền
sẹo, bỏng, chấn thương và gãy xương.
Ở
Việt Nam, đặc biệt ở Thanh Hóa, nhiều người ở câu lạc bộ Hàm Rồng đã sử
dụng cây Lược vàng để chữa rất nhiều bệnh theo kinh nghiệm dân gian Nga
như: viêm họng, viêm phế quản, tê liệt chân tay, đau lưng, khớp, bướu
cổ di chứng não, tim mạch, huyết áp và xơ vữa động mạch, u nang buồng
trứng.
11. Liều dùng, cách dùng:
Dạng
dùng thông thường là lấy cây tươi rửa sạch, nhai với ít muối, nuốt nước
(mỗi lần 2-3 lá) hoặc cắt nhỏ, toàn bộ thân rễ thì ngâm rượu uống, làm
thuốc bóp ngâm rượu, uống (mỗi lần 1/3 chén con). Ngày dùng 3 lần. Dùng
ngoài, giã đắp hoặc xoa bóp bằng rượu ngâm lá.
Ghi chú: Không nên uống với liều lượng quá nhiều, đề phòng tụt huyết áp.
---------------------------------------------------- Cây lược vàng (basket plant) – cây thuốc quý hơn cả vàng
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Cây lược vàng
có tên tiếng Anh là “basket plant” (cây giỏ – vì thường được trồng
trong những giỏ nhỏ để trong nhà) tên Latinh là Callisia fragrans, thuộc
họ thài lài Commelinaceae. Chính nhờ thành phần các chất sinh học hiện
diện trong cây có tác dụng hiệu quả trên cơ thể người, mà cây lược vàng đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu.
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa
học Mỹ và Canada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích
sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung
thư. Những chất này còn có khả năng chữa lành các bệnh mắt, viêm loét dạ
dày tá tràng, hen suyễn, và nhiều bệnh khác nữa. Nó làm tăng quá trình
biến dưỡng, làm tăng khả năng bảo vệ cơ thể và đồng thời thúc đẩy quá
trình tái sinh (đổi mới) các tế bào trong cơ thể.
Toàn cây chứa các chất có hoạt tính sinh
học gồm flavonoid, steroid và nhiều khoáng tố vi lượng có lợi cho sức
khoẻ. Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin P có khả năng làm bền mạch
máu và tăng tác dụng của vitamin C. Những hoạt chất này còn có tác dụng
giảm đau, an thần, kháng viêm, hoạt huyết, được dùng để chữa lành vết
thương, vết bỏng, vết bầm tím. Dân gian dùng làm phương thuốc chữa bệnh
loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong
cơ thể. Hai chất flavonoid được xác định là quercetin và kaempferol.
Quercetin là một chất chống oxy hoá tế bào mạnh, có khả năng kháng ung
thư và tăng sức bền thành mạch, còn hữu ích trong trường hợp dị ứng,
chảy máu thành mạch, viêm thận, thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh mắt và
các bệnh nhiễm trùng. Kaempferol giúp củng cố mao mạch, nâng đỡ thể
trạng, tăng sự đào thải nước tiểu và khả năng kháng viêm, được dùng chữa
viêm nhiễm, dị ứng và bệnh đường tiết niệu. Hai chất này hợp đồng cộng
lực, nhờ đó mà hiệu quả điều trị được gia tăng.
Chất steroid trong cây chính là
phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống
xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí
ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị
các bệnh thuộc đường hô hấp.
Coi chừng tác dụng phụ
Gần như loại thảo dược nào cũng có khả
năng gây tác dụng phụ và cây lược vàng không là ngoại lệ. Các tác dụng
phụ thường gặp nhất của việc sử dụng thảo dược này là tổn thương các dây
thanh quản, gây dị ứng phát ban và sưng phù, đặc biệt là ở những người
có hệ miễn dịch suy yếu và dễ dị ứng. Do đó, chỉ được chấp nhận sau khi
có ý kiến của bác sĩ.
Tóm lại, cho dù đã được nghiên cứu nhưng
đôi khi các kết quả vẫn chưa đủ để tạo chứng cứ khoa học cho một loại
thuốc mới, nên vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để biết cách sử dụng,
liều lượng, dạng thích hợp, không nên tự ý sử dụng và luôn nhớ một loại
thuốc không thể chữa được nhiều bệnh cùng lúc.
MỘT SỐ CÁCH DÙNG CÂY LƯỢC VÀNG
Đặt cạnh bệnh nhân: cây lược vàng có khả
năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có
ích cho việc điều trị các bệnh thuộc đường hô hấp. Nên đặt những chậu
cây lược vàng bên cạnh chỗ nằm của bệnh nhân viêm phổi hoặc ung thư
phổi.
Dạng dầu:
Cách 1: lấy toàn cây lược vàng đem ép
lấy dịch, bã còn lại đem phơi khô. Khi đã khô thì bẻ vụn ra ngâm trong
dầu ô liu, đậy kín trong khoảng ba tuần. Sau đó trộn chung và lọc qua
gạc mỏng, cho hỗn hợp dầu vào trong lọ thuỷ tinh màu, cất nơi mát.
Cách 2: cắt cây lược vàng thành những
mảnh nhỏ rồi cho hết vào một nồi chịu nhiệt, rót dầu thực vật vào nồi
rồi đem bỏ vào lò hầm ở 40oC trong tám giờ. Sau đó lọc qua gạc mỏng, cho
hỗn hợp dầu vào trong lọ thuỷ tinh màu, cất ở nơi mát. Loại dầu này
được dùng trị bệnh ngoài da hoặc để xoa chữa các chứng viêm khớp, cứng
khớp hoặc bôi để xoa bóp giảm đau toàn thân.
Dạng thuốc mỡ:
Cắt nhỏ toàn cây và nghiền nát trong
cối. Sau đó trộn với vaselin hoặc bột kem nhão để tạo thành một hỗn hợp
theo tỷ lệ 2 : 3. Cho khối thuốc mỡ vào lọ thuỷ tinh màu, để nơi tránh
ánh sáng. Cách bào chế khác là ép lấy dịch chiết của cây và trộn với
vaselin hoặc kem theo tỷ lệ 1 : 3, sau đó cũng cho vào lọ đậy kín, bảo
quản nơi mát. Thuốc mỡ này được dùng để bôi lên các vùng da bị tê cóng,
bầm tím, viêm loét da, và còn được áp dụng để chữa các trường hợp viêm
khớp, cứng khớp và đau nhức.
Chú ý: nên chọn những cây có ít nhất 9 –
10 đốt trở lên (không ngắn dưới 20cm), và có màu tím sậm vì lúc đó hàm
lượng chất kích thích sinh học trong cây đạt mức tối đa.
Chất steroid trong cây chính là
phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống
xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí
ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị
các bệnh thuộc đường hô hấp.
|
Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2014
Lược vàng
Trinh nữ hoàng cung
Xạ đen
Móng lưng rồng
Ngũ vị tử
- Ngũ vị tử là vị thuốc làm từ hạt của một loại dây leo sống nhiều năm dài từ 5-7m, phân bố trên các vùng núi cao như Sa Pa, Lào Cai. Quả của Ngũ vị tử mọc theo chùm, khi chín có màu đỏ rất đẹp.
Cây thuốc Ngũ vị tử
Vị thuốc Ngũ vị tử thường dùng trong các bài thuốc bổ Khí
- Có tác dụng trợ tim, giúp tăng lực bo bóp của cơ tim, tăng tuần hoàn máu. Chính điều này giúp Ngũ vị tử có tác dụng hiệu quả trong điều trị huyết áp thấp và suy nhược.
- Có hiệu quả trong điều trị trầm cảm ở bệnh nhân tâm thần.
- Có tác dụng bảo vệ, chống độc hại cho tế bào gan rất tốt. Trong Ngũ vị tử có chứa Lignan có tác dụng làm giảm tổn thương gan trong trường hợp viêm gan virus mạn tính. Ngũ vị tử dùng để điều trị viêm gan mạn tính có hoạt độ Transaminase huyết thanh cao, tổn thương gan, giúp hồi phục chức năng gan, làm giảm ALT huyết hanh nhanh và tăng khả năng giải độc trong cơ thể.
- Ngũ vị tử có hoạt tính chống đông máu trong thử nghiệm in vitro. Lignan từ Ngũ vị tử có hoạt tính đối kháng với yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, yếu tố này có vai trò trong nhiều tác dụng trên người như điều hòa huyết áp ( huyết áp hạ thì làm tăng lên và ngược lại), tăng độ thấm mao mạch, viêm cấp, hen suyễn, loét dạ dày, sốc do độc tố, dị ứng da.
- Thuốc có giá trị như Nhân sâm vì có chất kích thích (adaptogen) có tác dụng tăng sức dẻo dai, tăng sức đề kháng cho cơ thể,nâng cao huyết áp, cải thiện trí lực, tăng sức làm việc, tăng thị lực, cải thiện sự hấp thu của cơ thể.
- Tác dụng hưng phấn hô hấp rõ, hóa đàm và giảm ho.
Theo y học cổ truyền:
Ngũ vị tử có tính ấm, có tác dụng bổ nguyên khí, rất hữu hiệu điều trị chứng khí hư như:
- Hụt hơi, nói yếu, các chứng hen suyễn, ho do Phế khí hư.
- Hoạt tinh, mộng tinh, sinh lý kém, liệt dương do Thận khí hư
- Tiêu chảy, tiêu lỏng thường xuyên do Tỳ khí hư
- Ra mồ hôi nhiều, đau tức hông sườn do can khí hư
Dùng 500g Ngũ vị tử nghiền nhỏ, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g cùng với rượu. Kiêng dùng thịt heo, cá, tỏi và giấm.
2. Trị ho lâu ngày không dứt:
Lấy 15g Ngũ vị tử, 5g Cam thảo, 6g Ngũ bội tử, 6 g Phong hoa tiêu. Nghiền nhỏ, dùng ngậm mỗi ngày.
Hoặc dùng 32g Ngũ vị tử, 12g lá Trà xanh phơi khô, nghiền nhỏ, mỗi ngày uống 8g với nước ấm.
3. Trị cơ thể suy nhược, huyết áp thấp, ra nhiều mồ hôi, chóng mặt, ngủ kém:
Bá tử nhân 60g, Bán hạ khúc 60g, Nhân sâm 30g, Ngũ vị tử 30g, Ma hoàng căn 30g, Bạch truật 30g, Mẫu lệ 30g. Tất cả tán nhỏ, uống ngày 2 lần, mỗi lần từ 4-8g.
4. Trị đi tiêu lỏng kéo dài, sáng sớm đi tiêu lỏng, tiêu hóa kém, viêm đại tràng mạn
Phá cố chỉ 16g, Ngũ vị tử 8g, Nhục đậu khấu 6g, Ngô thù du 4g. Tán bột, sắc nước gừng và táo vo viên bằng hạt ngô. Mỗi ngày uống 20-30 viên.
Bài thuốc dân gian chữa trị bệnh thấp khớp cực hay
Khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa mưa bão, những ai mắc bệnh phong thấp
sẽ rất khó chịu vì đau nhức gân, xương; mình mẩy, chân tay rời rã, tê
bại, dẫn đến ăn ngủ kém sinh suy nhược. Việc chữa trị căn bệnh này rất
nan giải. Y học hiện đại cho rằng nguyên nhân sinh bệnh là do các ổ vi
khuẩn loại liên cầu hoại huyết nhóm A cư trú ở tai, mũi, họng gây nên dị
ứng nội sinh. Còn y học cổ truyền cho đây là chứng phong thấp nên
nguyên tắc chữa trị cần phải khu phong hòa huyết, thông huyết - tán hàn,
trừ thấp, giảm đau, thanh nhiệt, tiêu viêm, an thần, đồng thời bổ can,
thận, bồi dưỡng khí lực để tăng cường sức chống đỡ bệnh tật cho cơ thể.
Dựa vào cơ sở lý luận trên, bài thuốc dân gian sau đây đã đạt được yêu cầu ấy - bao gồm các vị:
Sinh địa 20g, hà thủ ô 20g, cỏ xước 12g, cốt toái bổ 12g, vòi voi 10g, cốt khí 10g, phòng đẳng sâm 20g, huyết đằng 12g, hy thiêm 12g, bồ công anh 12g, thiên niên kiện 10g, dây đau xương 10g.
Công năng của từng vị có trong bài thuốc
Vị sinh địa: (Rhizoma Rehmanniae) là thân rễ phơi khô của cây địa hoàng (Rehmannia glutinosa Libosch "gaertn"), họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae), có tác dụng bổ huyết, hòa huyết và thông huyết - dùng chống thiếu máu, suy nhược, ngoài ra còn giúp lợi tiểu, mạnh tim.
Cây cỏ xước: (Achyranthes bidentata Blume), họ dền (Amaranthaceae). Ðược dùng làm thuốc trị viêm khớp, lưng, gối, xương đau nhức, làm tan tụ máu; bổ can, thận.
Huyết đằng: (Caulis sargentodoxae), bộ phận dùng là thân cây huyết đằng phơi khô (sargentodoxae cuneata "Oliv" Rehd. et Wils), họ đại huyết đằng (Sargentodoxaceae). Vị đắng, tính bình. Có tác dụng trừ phong, thống kinh lạc, lợi niệu, sát khuẩn; Bổ huyết, hành huyết, khỏe gân cốt - chủ trị tê thấp, đau lưng, mình mẩy nhức mỏi.
Vòi voi (Heliotropium indicum Lin), họ tử thảo (Bonaginaceae), dùng chữa tê thấp, thông kinh lạc, hạ nhiệt, chữa mụn nhọt, viêm tấy và làm tan tụ huyết.
Hà thủ ô (Radix Polygoni multiflori), bộ phận dùng làm thuốc gồm rễ, củ phơi khô của cây hà thủ ô (Polygonum multiflorum Thumb) thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng bổ huyết, trị thần kinh suy nhược, làm khỏe gân cốt.
Bồ công anh (Lactuca Indica Lin), họ cúc (Compositae). Có tính chất sát khuẩn, tiêu viêm, hạ sốt, an thần và bồi bổ.
Hy thiêm (Sieges beckia orientalis L.), họ cúc (Compositae). Thường dùng làm thuốc chữa trị đau nhức xương, trừ phong thấp, gân cốt nhức lạnh, bán thân bất toại, lưng gối tê dại.
Cốt toái bổ (Rhizoma Drynariae fortunei), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân rễ cây cốt toái bổ (Drynaria fortuei J-sm), họ dương xỉ (Polypodiaceae), tính khô, ôn bình, tác dụng chữa đau xương, tán tụ máu, sát khuẩn, giảm đau. Là vị thuốc hòa hoãn và bổ thận, bồi dưỡng sinh khí.
Cốt khí (Radix Polygoni Cuspidati). Bộ phận dùng là rễ phơi khô của cây cốt khí (Polygonumreynontria Makino). Thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng chữa tê thấp, giảm đau do té ngã, bị thương và lợi tiểu.
Dây đau xương (Tinospora Sinensis Men) họ phòng kỷ (Menispermaceae). Có tác dụng chữa bệnh tê thấp, đau xương, đau người - là vị thuốc bổ.
Thiên niên kiện (Rhizoma Homalomenae), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân, rễ phơi khô của cây thiên niên kiện (Homalomenae aff sagittaefolia Jungh), họ ráy (Araceae). Dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức - Thường dùng cho người cao tuổi hay đau xương khớp, mình mẩy. Thiên niên kiện còn là vị thuốc bổ giúp kích thích tiêu hóa.
Ðảng sâm (Radix codonopsis), vị thuốc là rễ phơi khô của nhiều loại codonopsis. Họ hoa chuông (Campanulaccae). Người ta coi đảng sâm có thể thay thế nhân sâm - Là thuốc bồi bổ cơ thể, tăng lực, chống thiếu máu, tiêu đàm; bổ tì, vị, lợi niệu.
Như vậy sự kết hợp của mười hai vị thuốc trên thật hoàn hảo, đạt được lý luận của nguyên tắc chữa trị bệnh phong thấp, luôn hỗ trợ và tăng cường tác dụng trị liệu với nhau.
Liều dùng
Phương thuốc trên tùy theo hoàn cảnh, điều kiện của từng bệnh nhân mà áp dụng. Thang này có thể dùng dưới hai hình thức như ngâm rượu hoặc sắc uống.
* Nếu ngâm rượu: cứ 1 thang thuốc trên cần ngâm với 1 lít nước, tức 1.000ml rượu trắng 400, để trong 3 ngày lại thêm 500g (nửa cân) đường hòa tan vào 500ml nước đun sôi để nguội, đổ chung vào với rượu đã ngâm thang thuốc trên. Mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần từ 10-20ml trước lúc đi ngủ, uống liên tục trong 1-2 tháng.
* Dùng thuốc sắc: Mỗi thang trên cho vào 500ml nước đun nhỏ lửa, đậy kín ấm đến khi cạn còn khoảng 150-200ml thì ngừng sắc. Gạn nước thuốc ra chia đôi, uống mỗi lần 1/2 số nước đó, uống nóng. Dùng liên tục từ 20-25 ngày.
Bài thuốc dân gian chữa phong thấp
Dựa vào cơ sở lý luận trên, bài thuốc dân gian sau đây đã đạt được yêu cầu ấy - bao gồm các vị:
Sinh địa 20g, hà thủ ô 20g, cỏ xước 12g, cốt toái bổ 12g, vòi voi 10g, cốt khí 10g, phòng đẳng sâm 20g, huyết đằng 12g, hy thiêm 12g, bồ công anh 12g, thiên niên kiện 10g, dây đau xương 10g.
Công năng của từng vị có trong bài thuốc
Vị sinh địa: (Rhizoma Rehmanniae) là thân rễ phơi khô của cây địa hoàng (Rehmannia glutinosa Libosch "gaertn"), họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae), có tác dụng bổ huyết, hòa huyết và thông huyết - dùng chống thiếu máu, suy nhược, ngoài ra còn giúp lợi tiểu, mạnh tim.
Cây địa hoàng giúp điều hòa và thông huyết
Cây cỏ xước: (Achyranthes bidentata Blume), họ dền (Amaranthaceae). Ðược dùng làm thuốc trị viêm khớp, lưng, gối, xương đau nhức, làm tan tụ máu; bổ can, thận.
Cây cỏ xước chữa trị viêm khớp cực tốt
Huyết đằng: (Caulis sargentodoxae), bộ phận dùng là thân cây huyết đằng phơi khô (sargentodoxae cuneata "Oliv" Rehd. et Wils), họ đại huyết đằng (Sargentodoxaceae). Vị đắng, tính bình. Có tác dụng trừ phong, thống kinh lạc, lợi niệu, sát khuẩn; Bổ huyết, hành huyết, khỏe gân cốt - chủ trị tê thấp, đau lưng, mình mẩy nhức mỏi.
Huyết đằng chủ trị đau nhức khớp
Vòi voi (Heliotropium indicum Lin), họ tử thảo (Bonaginaceae), dùng chữa tê thấp, thông kinh lạc, hạ nhiệt, chữa mụn nhọt, viêm tấy và làm tan tụ huyết.
Cây vòi voi có tác dụng tan tụ huyết và tê thấp rất hiệu quả
Hà thủ ô (Radix Polygoni multiflori), bộ phận dùng làm thuốc gồm rễ, củ phơi khô của cây hà thủ ô (Polygonum multiflorum Thumb) thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng bổ huyết, trị thần kinh suy nhược, làm khỏe gân cốt.
Hà thủ ô có rất nhiều tác dụng cho sức khỏe con người
Bồ công anh (Lactuca Indica Lin), họ cúc (Compositae). Có tính chất sát khuẩn, tiêu viêm, hạ sốt, an thần và bồi bổ.
Bồ công anh còn có tính hạ sốt và an thần
Hy thiêm (Sieges beckia orientalis L.), họ cúc (Compositae). Thường dùng làm thuốc chữa trị đau nhức xương, trừ phong thấp, gân cốt nhức lạnh, bán thân bất toại, lưng gối tê dại.
Hy thiêm thảo chữa đau nhức xương
Cốt toái bổ (Rhizoma Drynariae fortunei), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân rễ cây cốt toái bổ (Drynaria fortuei J-sm), họ dương xỉ (Polypodiaceae), tính khô, ôn bình, tác dụng chữa đau xương, tán tụ máu, sát khuẩn, giảm đau. Là vị thuốc hòa hoãn và bổ thận, bồi dưỡng sinh khí.
Cốt toái bổ chữa đau lưng, xương khớp cực tốt
Cốt khí (Radix Polygoni Cuspidati). Bộ phận dùng là rễ phơi khô của cây cốt khí (Polygonumreynontria Makino). Thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Tác dụng chữa tê thấp, giảm đau do té ngã, bị thương và lợi tiểu.
Cốt khí củ chữa tê thấp
Dây đau xương (Tinospora Sinensis Men) họ phòng kỷ (Menispermaceae). Có tác dụng chữa bệnh tê thấp, đau xương, đau người - là vị thuốc bổ.
Dây đau xương trị chứng đau người, đau xương
Thiên niên kiện (Rhizoma Homalomenae), bộ phận dùng làm thuốc gồm thân, rễ phơi khô của cây thiên niên kiện (Homalomenae aff sagittaefolia Jungh), họ ráy (Araceae). Dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức - Thường dùng cho người cao tuổi hay đau xương khớp, mình mẩy. Thiên niên kiện còn là vị thuốc bổ giúp kích thích tiêu hóa.
Thiên niên kiện trị đau xương khớp cực hay
Ðảng sâm (Radix codonopsis), vị thuốc là rễ phơi khô của nhiều loại codonopsis. Họ hoa chuông (Campanulaccae). Người ta coi đảng sâm có thể thay thế nhân sâm - Là thuốc bồi bổ cơ thể, tăng lực, chống thiếu máu, tiêu đàm; bổ tì, vị, lợi niệu.
Đảng sâm chống thiếu máu, bồi bổ cơ thể
Như vậy sự kết hợp của mười hai vị thuốc trên thật hoàn hảo, đạt được lý luận của nguyên tắc chữa trị bệnh phong thấp, luôn hỗ trợ và tăng cường tác dụng trị liệu với nhau.
Liều dùng
Phương thuốc trên tùy theo hoàn cảnh, điều kiện của từng bệnh nhân mà áp dụng. Thang này có thể dùng dưới hai hình thức như ngâm rượu hoặc sắc uống.
* Nếu ngâm rượu: cứ 1 thang thuốc trên cần ngâm với 1 lít nước, tức 1.000ml rượu trắng 400, để trong 3 ngày lại thêm 500g (nửa cân) đường hòa tan vào 500ml nước đun sôi để nguội, đổ chung vào với rượu đã ngâm thang thuốc trên. Mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần từ 10-20ml trước lúc đi ngủ, uống liên tục trong 1-2 tháng.
* Dùng thuốc sắc: Mỗi thang trên cho vào 500ml nước đun nhỏ lửa, đậy kín ấm đến khi cạn còn khoảng 150-200ml thì ngừng sắc. Gạn nước thuốc ra chia đôi, uống mỗi lần 1/2 số nước đó, uống nóng. Dùng liên tục từ 20-25 ngày.
Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014
Vì sao con người không trường sinh bất tử?
Vì sao con người không sống mãi?
Vì sao có người sống thọ, có người không thọ? Tuổi thọ do yếu tố nào quyết định? Vì sao con người không trường sinh bất tử?
Và còn nhiều câu hỏi về tuổi thọ của con người chưa có lời giải đáp
thỏa đáng. Cho đến gần đây, các nhà khoa học đã khám phá ra một phần bí
ẩn của tuổi thọ. Mời Quý bạn đọc cùng tìm hiểu.
Con người không thể sống mãi vì tế bào chỉ phân chia 50 lần mà thôi
Các nhà khoa học phát hiện: trong cơ
thể, quá trình lão hóa được kiểm soát không chỉ bởi các đồng hồ sinh học
đặc biệt của toàn cơ thể mà còn rất nhiều “đồng hồ” đặt ở trong từng tế
bào. Trước đây các nhà khoa học cho rằng, các tế bào trong cơ thể có số
lần phân chia vô hạn. Nhưng công trình nghiên cứu của Hayflik ( Hoa Kỳ)
đã chứng minh rằng chỉ có các tế bào ung thư mới phân chia vô hạn, còn
tất cả các tế bào bình thường chỉ phân chia đến giới hạn 50 lần rồi
ngừng phân chia và chết đi. Hayflik
đã làm đông lạnh tế bào đã phân chia được 30 lần. Sau một thời gian lại
hoạt hóa cho tế bào này phân chia tiếp. Thế nhưng nó vẫn nhớ là đã phân
chia 30 lần trước khi đông lạnh rồi, bây giờ nó chỉ phân chia tiếp 20
lần nữa là đủ 50 lần phân chia rồi ngừng hẳn. Nhà khoa học còn phát hiện
ra rằng: sự phân chia đầy đủ 50 lần chỉ có ở các tế bào từ bào thai,
còn các tế bào ở người trưởng thành thì người càng già số lần phân chia
của tế bào càng ít. Đây gọi là hiệu ứng Hayflik.
Sơ đồ hiệu ứng Hayflik
Nhưng
tác giả của phát minh này cũng như nhiều nhà khoa học khác, không giải
thích được nguyên nhân vì sao tế bào chỉ phân chia số lần hữu hạn là 50.
Tuổi thọ giảm vì phân tử AND bị tiêu hao sau mỗi lần phân chia
Chuỗi xoắn kép phân tử AND do Watson và
Crick tìm ra là cơ sở di truyền của tế bào. Nhà khoa học Alexei
Olovnikov (Liên Xô ) nêu giả thuyết là cứ mỗi lần phân chia của tế bào,
phân tử AND lại ngắn đi một ít. Cho đến khi sự rút ngắn này đụng đến một
gen quan trọng cho sự sống thì tế bào sẽ chết. Ông giải thích hiện
tượng này như sau: các phân tử ADN của mỗi tế bào khi phân chia thì hai
sợi xoắn kép giãn ra, tách đôi để tạo ra chuỗi xoắn mới, với hai dãy
enzym tích tụ từ quá trình này không đủ khả năng lặp lại toàn bộ cả hai
sợi phân tử ADN. Hậu quả là một trong hai sợi xoắn kép bao giờ cũng bị
ngắn hơn sợi kia. Cứ mỗi lần tách ra là phân tử ADN lại mất một ít thành
phần của nó. Sự co ngắn của các phân tử ADN được Olovnikov gọi là sự
“co mép lề” hay “cắt khúc cuối”.
Mô hình cấu trúc phân tử AND
Ông giải thích rằng: các chuỗi ADN con
được tạo thành do di chuyển của men ADN - Polymeraza dọc theo chuỗi mẹ.
Các trung tâm nhận biết và trung tâm xúc tác của men này nằm cách nhau.
Khi trung tâm nhận biết (ví như đầu tàu hỏa) đi đến chuỗi ADN mẹ thì
trung tâm xúc tác (ví như toa cuối đoàn tàu) ngừng ở cách đoạn cuối ADN
một khoảng và khoảng còn lại đó không được sao chép. Một lý do nữa là
ADN còn bị thu ngắn do việc tổng hợp các chuỗi sao chép được bắt đầu với
những phân tử ARN (Axit Ribonucleic) ngắn. Sau khi tổng hợp xong, chuỗi
sao chép ARN được loại ra, vì vậy bản sao thường ngắn hơn bản gốc.
Con người không thể trường sinh bất tử
Hiện tượng “co mép lề” ADN cho đến nay
vẫn chưa có nghiên cứu nào lý giải được rõ ràng. Nhà khoa học Barbara Mc
Clintock khi nghiên cứu về ngô đã thấy rằng nhiễm sắc thể trở nên không
ổn định một cách lạ lùng khi chúng bị phân chia ra. Còn Herman
Muller, cũng có nhận định tương tự Barbara khi nghiên cứu loài ruồi
giấm. Ở các đầu mút của nhiễm sắc thể bình thường phải tồn tại một cấu
trúc phân tử nào đó có tác dụng ổn định chúng. Herman Muller gọi chúng
là “telomeres” (theo tiếng Hy Lạp telo có nghĩa là phần cuối). Chính
telomeres nằm ở chuỗi tế bào sẽ chết. Nhưng chiều dài của telomeres có
tỷ lệ với tuổi thọ hay không? Nhiều nghiên cứu trên thế giới đang tìm
lời giải đáp.Với
những kỹ thuật hiện đại, người ta đã có thể tách riêng các telomeres ra
khỏi chuỗi ADN làm rõ sự rút ngắn telomeres, cũng như đo được nhịp điệu
co ngắn của telomeres chia tế bào.
Mô hình tách riêng các telomeres ra khỏi chuỗi AND
Người
càng cao tuổi thì telomeres của họ càng ngắn. Theo một tính toán:
telomeres của nguyên bào sợi là nơi sản sinh ra chất colagen, cứ mỗi năm
mất khoảng 20 phân tử. Đến khi các telomeres trở nên quá ngắn thì các
nhiễm sắc thể sẽ kém bền vững, chúng không thể bám vào được màng nhân tế
bào, chúng bị dính vào nhau và có hình dạng kỳ dị. Kết quả là các tế
bào không thể phân chia được nữa.
Các nhà nghiên cứu đang xem xét đánh giá
kích thước của telomeres như một “thước đo”chuẩn xác tuổi thọ của tế
bào. Nhà khoa học Calvin Harley còn cho rằng nếu khi sinh ra telomeres
của một người nào đó ngắn hơn bình thường, thì các tế bào của người đó
sẽ có tuổi thọ ngắn hơn một cách tương ứng.
Có lẽ các telomeres như một thứ bảo hiểm
làm chậm hiệu ứng của thời gian đối với các nhiễm sắc thể. Hy vọng
không lâu nữa khoa học sẽ tìm ra “thước đo cuộc đời” yếu tố quyết định
tuổi thọ, để tìm ra phương pháp làm tăng tuổi thọ cho con người.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











